Thursday, November 15, 2018

NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA Y KHOA NHU ĐẠO

Những cách thức về cứu tỉnh dựa vào sự gõ, nặn hay xoa bóp những huyệt điểm đặc biệt; hoặc căn cứ vào Kiai (tiếng thét) đều bắt nguồn từ đời thượng cổ.
Nguồn gốc ấy ở vào khoảng thế kỷ thứ 30 (trước Thiên Chúa) tại Trung Quốc và có thể kết hợp với thuật châm cứu cũng vừa ra đời trong giai đoạn nầy.
Mãi đến xa xôi về sau, Nhật Bản mới cho nhập những phương pháp nầy về lãnh thổ mình trong thời khoa học, mỹ thuật và văn chương bắt đầu nảy nở.
Vào khoảng thế kỷ thứ sáu (sau Thiên Chúa) tức là vào giai đoạn các vua Nhật cho qua Trung Quốc từng phái đoàn học hỏi nghiên cứu nền văn minh kỳ cựu của Trung Quốc.
(Theo cuốn châm cứu pháp Trung Quốc của G. Soulie' de Morant " L'acupuncture chinoise ").
Do khả năng thải nạp và tài áp dụng linh động trên mọi lãnh vực, người Nhật đã xây dựng thành một bộ môn riêng biệt lấy tên là: Nghệ Thuật Kuatsu (cứu tĩnh) hay Kappo (hoạt pháp) gồm cả hàng trăm phương pháp khác nhau, và trình độ cao thấp phân biệt nhau.
Những họa hình cũ hoặc gần đây sưu tầm được rất sai biệt với thực tế, có lẽ là vì hai nguyên do sâu xa sau đây:
  1. Căn cứ vào kinh nghiệm hơn là chú trọng đến khoa học.
  2. Ý thức muốn che đậy, giấu kín những nguyên tắc căn bản hay những chi tiết xác thực.
Do đó, lối dạy bảo, học hành đều bằng cách truyền khẩu nhằm giữ riêng cho mình, không cho phổ biến một bộ môn kỹ thuật mà giành là của riêng và cũng nhờ đó mà đặt mình lên trên mọi người, mọi phái.
Độc quyền nầy thời bấy giờ thuộc phái Võ-Sĩ-Đạo (Samourai) “dựa theo những nguyên tắc gần như luật lệ, tuy về đức công bình chính trực” nhưng thường biến thành duy kỹ khắt khe.
Ngày nay, thuật cứu tĩnh tức kích thích lại các bộ phận tê liệt trong người được phổ biến giáo dục rất rộng rãi ở Nhật, và nếu người ta còn giữ kín một số phương pháp, hoặc truyền ra một cách rất thân trọng; đó không hẳn là điều đáng chê mà ngược lại đáng khuyến khích vì dụng tâm của người Nhật là không muốn trao cho những tay không lành nghề những phương pháp khó khăn, mà nếu không biết áp dụng đúng cách sẽ nguy hiểm hơn là có lợi.
Những cách thức của môn Y KHOA NHU ĐẠO có khác nhau, tuy nhiên nhìn chung, có thể nêu ra một số thông thường, nhưng rất cần thiết làm nền tảng cho thuật KUATSU.
Tập hợp những nguyên tắc cần thiết ấy, chứng minh mối tương quan và lối vận dụng một cách khoa học và kết hợp tất cả trong một tập tài liệu chung có mạch lạc, trật tự dễ hiểu là điều ao ước thiết tha của chúng tôi vậy.
Trích Y KHOA NHU ĐẠO 1967 (Âu-vĩnh Hiền, Đinh-văn-Sương, Bùi-văn-Lộc, Họa-sĩ: Đông-Trung)
***
,
THAM KHẢO:

Tuesday, May 1, 2018

THANH NIÊN VỚI NHU ĐẠO - Thượng Tọa THÍCH TÂM GIÁC

CĂN BẢN NHU ĐẠO - Thượng Tọa THÍCH TÂM GIÁC - Nhà Tuyên Úy Phật Giáo Ấn Hành 1969
THANH NIÊN VỚI NHU ĐẠO (Tr.3)
Thanh niên là rường cột của quốc gia, là nguồn sống của dân tộc và là hy vọng, tương lai của tổ quốc.
Quốc gia muốn hùng mạnh, dân tộc muốn hùng cường, Tổ quốc muốn được bảo tồn là phải tạo một thế hệ thanh niên mới, một thế hệ thanh niên có đủ dũng lực, sáng suốt, hùng mạnh và đầy đức vị tha.
Muốn có một thế hệ thanh niên như thế, điều cốt yếu là phải đào luyện cho thanh niên có một tấm thân cường tráng, một tinh thần dũng cảm và một đức tính kiên trì, tóm lại là nên huấn luyện cho thanh niên tối thiểu cũng biết được một khoa vũ thuật đủ tự vệ và để cứu người.
Dò xem lịch sử Việt Nam, trong các triều đại xưa đã có biết bao các bậc anh hùng, nghĩa sĩ, nào Lê Đại Hành, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v… từ một võ sinh đến một tướng tài lập quốc. Lại những bậc thiếu niên như Trần Quốc Toản, Trần Bảo Ngọc v.v… cũng đều là những cậu học trò mang nặng một tinh thần quật khởi, ra tay đánh đuổi quân thù, quyết long bảo vệ non sông đất nước.
Những cảnh “mài kiếm dưới trăng” của các trang nghĩa sĩ nghìn xưa phải là cái đích để ngày nay các thanh niên quyết chí noi theo và thực hiện.
Trong các phương pháp đào luyện thanh niên hiện tại, để có một tấm thân cường tráng, đã có các môn thể dục, thể thao đang được khuyến khích, riêng về bộ môn vũ thuật, vì có nhiều ngành có phần khó tập. Vả lại trên phương diện biểu diễn có lẽ ít phần hào hứng nên chưa thấy phát triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên, sau ngót 20 năm kinh nghiệm chiến tranh và khởi đoạn từ cuộc cách mạng 1963, thanh niên Việt Nam như vừa chợt tỉnh và ý thức nhiều trên phương diện trau luyện cho mình có một khả năng tự vệ, đồng thời cũng có thể giúp người bằng cách dung vũ thuật can thiệp mỗi khi họ bị áp bức.
Các môn vũ thuật hiện được thanh niên Việt Nam ưa chuộng là: Quyền Anh (Boxing), Võ Việt Nam (Vovina), các môn Võ Trung Hoa và một môn võ có phần mới mẻ những dễ tập, đó là môn JUDO hay còn gọi là Nhu Đạo.
Môn Quyền Anh, Võ Việt Nam, Võ Trung Hoa v.v… có phần mạnh mẽ, nhưng đòi hỏi ở người tập phải có một sức lực dồi dào và những cách tập luyện công phu mà cần làm sao đo lường cho vừa khả năng, nếu không sẽ là tự hủy. Riêng môn Nhu Đạo có phần phổ thông hơn vì ai cũng tập được, dù ốm o gầy còm, dù tuổi còn thơ ấu hay người đã trưởng thành cũng như các vị già lão, chịu khó một tý đều có thể tập luyện được một cách hết sức dễ dàng.
Môn Nhu Đạo nguyên lại do ông Jigoro Kano, người Nhật phát minh, tính đến nay đã ngót 100 năm.
Thực ra môn vũ thuật này, một phần áp dụng môn Nhu Thuật của phái võ Trung Hoa, một phần do sự chiêm nghiệm nhân một buổi ra xem mưa tuyết, nhìn thấy những cành cây cứng đều bị gãy nát dưới cảnh mưa gió phũ phàng, riêng những cành cây mềm yếu lại vẫn nguyên lành, an nhiên tự tại, chỉ lả ngọn hoặc lướt mình đôi chút qua cảnh gió táp mưa xa. Do đó Ông Jigoro Kano đã nảy sinh ra một cách tập luyện tập thể và biến chế những miếng võ đón đỡ các đòn cứng tấn công đồng thời dùng những đòn mềm quật lại.
Ông Jigoro Kano xưa cũng chỉ gầy ốm như bao thanh niên khác, nhưng với một tinh thần kiên trì tập luyện, ông đã có một thân hình cân đối và một sức mạnh dồi dào và là bậc Tổ sư trong phải Nhu Đạo.
Người Nhật hiện nay có đến 70% thanh niên học tập Nhu Đạo, và môn võ này đã bành trướng hầu khắp các nước trên thế giới, bằng chứng là kỳ thế vận hội vừa qua tại Đông Kinh, các quốc gia tham dự hầu hết đều có đại biểu trong môn vũ thuật phổ thông này.
Người thanh niên Việt Nam vốn sẵn có dòng máu oai hùng của Quang Trung, Lê Lợi đầy trí tự cường, thích đường tiến thủ, sẵn đức vị tha, đó là những yếu tố căn bản rất phù hợp với tinh thần của một võ sinh Nhu Đạo.
Trước bao giông tố phũ phàng quấy lộn dòng sông lịch sử, con thuyền quốc gia nhào lên, lộn xuống trong làn sóng “thời thế… thế thời” người ta chỉ còn đặt hy vọng nơi thế hệ thanh niên, những người trẻ đầy nghị lực, đầy quả cảm, dũng mãnh tinh tiến chèo lái con thuyền vượt qua cơn phong ba bão táp.
Thanh niên khỏe để phụng sự, thanh niên mạnh quốc gia mới hùng cường. Đó là một nguyên lý tất yếu và đương nhiên mà ai ai cũng phải nhìn nhận.
Cho nên, trong giai đoạn hiện tại, việc đào luyện thanh niên là một sự kiện cần phải thực hiện và bành trướng gấp mà việc đào luyện ấy nó phải dung hợp cả hai yếu tố:
- Sức mạnh
- Tinh thần
Trong phương pháp huấn luyện Nhu Đạo, người võ sinh phải huấn tập đầy đủ cả về hai bộ môn:
- Tập thiền
- Vũ thuật
Thiền là một pháp môn “gạn đục khơi trong” của Phật Giáo. Tập thiền để tâm hồn lắng dịu hòa nhịp với cái lặng trong của vũ trụ, thâu hút lấy sức truyền cảm bao la “Phật tính” của nhân loại.
Tập thiền là rèn luyện cho tinh thần bình tĩnh, sang suốt, mà phần thể xác, nhờ sự yên nghỉ của tâm tư huyết mạch chu lưu, điều hòa khắp thảy. Sau đó, người võ sinh bước vào sân tập đã thấy một sự sảng khoái tâm thần, gân cốt vận động càng them sức lực, vì thế, thiền định và vũ thuật song song cùng tiến, con người sẽ trở nên cường tráng có một tinh thần tinh tiến, dũng mãnh, tư tưởng ngay thẳng, trong sạch, khoan dung.
Như vậy, môn Nhu Đạo chính là một pháp môn tinh thể hòa hợp, nghĩa là tinh thần người thanh niên đầy đủ long dũng cảm và trí phấn đấu mà phần thân thể sẽ them cường tráng, gia tang sức lực. Ngoài ra, nhờ sự trau luyện người võ sinh Nhu Đạo còn có những đức tính vị tha, nhẫn nhục, nhu hòa những đức tính căn bản đạo đức của người thanh niên thế hệ.
Trong thời gian tập luyện, võ sinh Nhu Đạo phải thuộc làu và thực hành 10 điều tâm niệm:
10 ĐIỀU TÂM NIỆM
1- Tôn trọng kỷ luật và nội quy của trường.
2- Kính thầy, mến bạn, bênh vực người yếu đuối, thế cô.
3- Kính trọng các bạn trong môn phái võ nghệ khác.
4- Ngoài những trận đấu giao hữu, tuyệt nhiên không thách thức nhận đấu với ai.
5- Thắng không kiêu, bại không nản. Lúc nào cũng giữ được bình tĩnh.
6- Chỉ tự vệ trong trường hợp bị tấn công nhưng luôn luôn dung thứ người thất thế.
7- Luôn luôn tự rèn luyện để thân thể cường tráng, tư tưởng ngay thẳng, trong sạch, khoan dung. Tính nết nhẫn nhục, nhu hòa và kiên trì.
8- Nghe nói tư lợi thì ngoảnh mặt đi, khi bàn công ích thì băng mình tới.
9- Thà chịu thiệt hại còn hơn làm điều hèn nhát, bất công.
0- Mục tiêu của mỗi Nhu Đạo Sinh là thực hiện mục đích: BI, TRÍ, DŨNG
Cứ 10 điều tâm niệm trên đây, người võ sinh Nhu Đạo khi còn đang học hay khi ra trường, hành xử việc đời sẽ giúp ích rất nhiều cho quốc gia, xã hội, và trên phương diện cứu quốc, kiến quốc, người ta trông chờ rất nhiều ở người võ sinh tương lai như thế.
Tóm lại, thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là phải trau luyện tích cực ngay một khoa vũ thuật cần yếu cho bản thân, gạt bỏ những tư tưởng ươn hèn, ủy mị, gắng sức luyện tập cho thân thể cường tráng, tâm hồn lành mạnh để xứng đáng là “NGƯỜI TRAI THẾ HỆ”
Riêng với các bạn quân nhân, cá bạn là những chiến sĩ tiền phong nối nghiệp Quang Trung, Lê Lợi, môn Nhu Đạo chính là một môn vũ thuật cần yếu và thiết thực đối với đời sống “Quân đội”.
Một cử chỉ nhanh nhẹn, một phản ứng kịp thời chính là những động năng khiến người ta chiến thắng kẻ thù hoặc thoát được hiểm nguy mà kẻ thù nào cũng toan rình rập tấn công.
Anh em quân nhân cũng là một phần tử trong đại gia đình thanh niên mà chính an hem là những bậc đàn anh đang nêu cao tinh thần bất khuất của người trai Việt, viết lên những trang sử anh dũng của nòi giống Lạc Hồng, ngăn chặn đối phương mang lại thanh bình cho xứ sở.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, thanh niên chúng ta há lại không bằng người thất phu sao?
Quốc dân trông chờ ở các bạn !
Hãy dũng mãnh tinh tiến, tự luyện cho mình thành “NGƯỜI TRAI THẾ HỆ”
Chào HÙNG – LỰC – TỪ BI
Thượng Tọa THÍCH TÂM GIÁC

Thursday, August 11, 2016

Lịch sử và vai trò của Y khoa Nhu đạo

Vai trò của bác sĩ Y khoa Judo trị liệu


Bác sĩ Y khoa Judo trị liệu từng được biết đến như "thuật sĩ nắn xương"
Bác sĩ Judo Y khoa trị liệu là người có giấy phép cấp quốc gia để điều trị các chấn thương xương, khớp, cơ bắp và các mô mềm thông qua việc điều trị duy trì (không qua phẫu thuật) dựa trên y học cổ truyền Nhật Bản hoặc các kỹ năng trị liệu Judo (phương pháp y học  được nhiều người biết đến và tin tưởng từ xưa ) cùng với các kiến thức Tây y hiện đại.
Những kỹ thuật trị liệu phát triển qua lịch sử, thân thiện với bệnh nhân và không sử dụng thiết bị y tế.
Các kỹ thuật Y khoa trị liệu của Judo không được tiêu chuẩn hóa một cách rõ ràng vì nhiều trường chỉ lưu truyền bằng miệng, ngoại trừ một số quan điểm phổ biến như việc ứng dụng các vận động tự nhiên của cơ thể, cơ chế tự chữa lành và sức mạnh của hệ miễn dịch. Do đó có thể nói rằng liệu pháp Y khoa Judo chứa tất cả các kỹ thuật trị liệu dựa trên cơ sở lý thuyết điều trị không sử dụng thiết bị y tế hiện có ngày nay. Vì vậy, nó đòi hỏi cần phải có sự đào sâu nghiên cứu.


Trong những năm gần đây, y học vật lý và các nghiên cứu về vận động (Kinesiology) sử dụng thiết bị dựa trên nền tảng điện học (tần số thấp, tần số cao, sóng siêu âm  … ) trở nên phổ biến. Tuy nhiên, trong liệu pháp Y khoa Judo, các phương pháp này bổ sung cho việc điều trị mà không sử dụng các thiết bị y tế.
Hoạt động y tế dựa trên Luật về liệu pháp Y khoa Judo
Luật riêng biệt về Y khoa trị liệu Judo (Judo therapist Law) được ban hành vào năm 1970 quy định việc cấp giấy phép hành nghề trị liệu Y khoa Judo và các điều khoản thực hiện khác. Các quy định này điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt động của các bác sĩ Judo trị liệu, quyền để mở một phòng khám trị liệu Judo, điều trị gãy xương và trật khớp xương dựa trên tiền đề y học (không bao gồm việc sơ cứu).
Nội dung của kỳ kiểm tra cấp phép quốc gia về trị liệu Judo được nêu tại các quy định này gồm giải phẫu học, sinh lý học, (tóm tắt) bệnh lý động học  giản lược, vệ sinh học ( hygieiology ), y tế công cộng, y học lâm sàng tổng quát, (tóm tắt) giải phẫu học giản lược, phẫu thuật chỉnh hình, y học phục hồi chức năng, lý thuyết Y khoa trị liệu Judo và các quy định pháp luật có liên quan. Thông qua các môn này, chúng ta có thể biết rằng ‘y học cổ truyền ngày nay’ (y học quốc gia) có mối liên hệ chặt chẽ với các kiến thức y học đặc biệt của phương Tây hiện đại.
Lịch sử của liệu pháp Y khoa Judo


Là chuyên gia trong việc điều trị các tổn thương xương khớp tồn tại trước cả khi được ghi nhận trong lịch sử.
Lịch sử của liệu pháp Y khoa Judo bắt đầu khi con người điều trị các chấn thương bên ngoài lần đầu tiên. Nhưng theo như những bằng chứng lịch sử ghi nhận, đã có những mô tả bằng cổ ngữ vào năm 701 về các chuyên gia điều trị gãy xương và tổn thương khớp. Đây hẳn là sự ra đời của y học cổ truyền (y học quốc gia) tại Nhật Bản.

Theo ghi chép, trong thời kỳ nội chiến, khi samurai giành được quyền lực, bác sĩ phẫu thuật được gọi là "kinsoi" chuyên nắn và điều trị gãy xương cho samurai bị thương trong chiến đấu.
Y học võ thuật phát triển từ Jujutsu
Liệu pháp Judo có nguồn gốc ban đầu từ kungfu và thuật nắn xương trật đả, do những người tị nạn từ Trung Quốc vào đầu thế kỷ 17 đem đến Nhật sau đó phát triển thành tiền thân của jujutsu Nhật Bản và lan rộng ra trên toàn quốc như một "kỹ thuật cứu và giết người". Đây là lý do tại sao có rất nhiều trường học của liệu pháp y khoa Judo chỉ được truyền khẩu.


Năm 1746, một cuốn sách có tựa đề "Bonesetting Treatment Book" (tạm dịch là “Sách về điều trị và nắn xương khớp”) đã ra đời và  được cho là cuốn sách về nắn xương lâu đời nhất ở Nhật Bản. Ngoài ra, trong một cuốn sách có tựa đề "Redressment Arcanum" (Bí Thuật Nắn Xương), một phương pháp điều trị chấn thương xương khớp được mô tả như là một phương pháp sơ cứu Judo.
Hơn nữa, vào năm 1807, quyển sách "Redressment Models" (Các Phương Pháp Trật đả Nắn Xương) ra đời và thuật nắn xương trật đả đã được công nhận là nghệ thuật của nền y học.


Trong thời kỳ Edo, khi các nền văn hóa khác nhau của Nhật Bản đã phát triển, các nghiên cứu khoa học của phương Tây mới bắt đầu nở rộ và các quyển sách về khoa học phương Tây trong nhiều lĩnh vực đã được dịch sang tiếng Nhật. Trong lĩnh vực trị liệu y khoa Judo, kiến ​​thức y học phương Tây đã được tiếp thu và Y khoa Nhu đạo truyền thống của Nhật Bản đã được kết hợp với Tây y.


Sự công nhận của xã hội đối với Judo trị liệu
Năm 1874, Chính sách Sức khỏe  đã được ban hành khiến cho các bác sĩ Judo trị liệu bước vào giai đoạn của những khó khăn để tồn tại. Năm 1919, các quy định chính thức được điều chỉnh bởi "phong trào kiến nghị công nhận chính thức Judo Y khoa trị liệu". Và trong năm 1920, cuộc kiểm tra cấp giấy chứng nhận đầu tiên được tiến hành như một phần của hệ thống chất lượng.
Một Judo Therapy Clinic - Phòng khám trị liệu Y khoa Nhu đạo ở Tokyo
Ảnh: http://www.ocada.jp/life/seikotsu.php
Bảo hiểm y tế
Năm 1936, việc bảo hiểm y tế chi trả cho các chi phí cho việc điều trị bằng Judo Y khoa trị liệu đã được phê duyệt với mục đích cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế lành mạnh đối với những khu vực  thưa dân cũng như các khu vực đông dân cư. Điều này có nghĩa rằng tầm quan trọng của vai trò của Judo Y khoa trị liệu như là một phần của chăm sóc y tế cộng đồng đã được công nhận cùng và đồng thời, vai trò của nó cũng được làm rõ.
Hệ thống cấp phép Giáo dục
Vào năm 1951, khi Nhật Bản vẫn còn trong những năm phục hồi sau chiến tranh, chính phủ thành lập các hệ thống cấp phép giáo dục liên quan đến việc phát triển Judo trị liệu bằng các sắc lệnh liên bộ của Bộ Giáo dục và Y tế,  và Bộ Phúc lợi (Hiện nay là Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi). Theo đó, hệ thống cấp phép cho việc đào tạo và giáo dục hoàn thiện chính thức được thành lập, nhiều trường đào tạo bác sĩ Judo Y khoa trị liệu cũng đã được thành lập.
Giai đoạn cấp phép quốc gia
Năm 1990, cơ quan quản lý việc cấp phép cho bác sĩ Judo trị liệu đã được chuyển từ vị trí chịu sự điều chỉnh của cấp quận lên Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, và kỳ thi cấp phép quốc gia đầu tiên cho bác sĩ Judo trị liệu đã được tổ chức trong năm 1933.


Nâng cao chất lượng bác sĩ Judo trị liệu cùng với việc tăng chất lượng các cơ sở đào tạo
Số lượng người dự thi trong kỳ thi cấp phép quốc gia đầu tiên chỉ có 1066 người, nhưng trong kỳ thi lần thứ 12 được tổ chức vào tháng 3 năm 2004 số thí sinh dự thi tăng lên đến 3.000 người.
Điều này là do sự thay đổi xã hội từ năm 2000 bao gồm việc bãi bỏ các quy định sau vụ Big Bang, tinh giản biên chế của công ty, phá sản của các ngân hàng và sự sụp đổ của các doanh nghiệp huyền thoại khiến cho người ta lo lắng về tương lai của họ và mong muốn có được những  những bằng cấp được công nhận. Việc thúc đẩy phân loại các công ty đến các ngành nghề kinh doanh, các loại hình doanh nghiệp khác nhau là một trong những nguyên nhân gián tiếp cho sự gia tăng nhanh chóng của cơ sở đào tạo bác sĩ Y khoa Judo trị liệu.


Bằng cách này, số lượng các trường đào tạo bác sĩ Y khoa Judo trị liệu khắp cả nước  vào năm 1998 là 14, và tăng lên đến 107 vào năm 2014 và tổng con số đã tăng từ 1.050 học  viên đến trên 8.000.
Kết luận – Sự phát triển của bác sĩ Judo trị liệu,  người xây dựng tương lai
Trong khi các yếu tố truyền thống dần bị mai một, người ta vẫn rất quan tâm và đầu tư cho Judo y khoa trị liệu hay nền y học cổ truyền Nhật bản như đã kể trên. Vì vậy, nó là một chìa khóa cho sự lựa chọn nuôi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các thế hệ tiếp theo một cách ổn định, đây đồng thời cũng là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.

Ngoài ra chúng tôi nghĩ rằng cần thiết để thực hiện các biện pháp công khai và phù hợp để tạo ra một môi trường mới hoặc một hệ thống xã hội để nuôi dưỡng khả năng cũng như các giá trị đúng của Judo trị liệu bằng cả ngành công nghiệp và chính phủ kết hợp với học thuật.
Các chuyên gia Y khoa Nhu đạo Nhật Bản đang minh họa kỹ thuật trị liệu tại Hội nghị Y học cổ truyền ngày 07/3/2012 tại khách sạn Phnom Penh - Cambodia. Nguồn: http://www.fidr.or.jp/english_bk/info/topics.html
Người dịch: Phương Thảo
Nguồn: Kyobun College of Tokyo Judo Therapy http://kyobun.ac.jp/english/seihuku/

Wednesday, August 3, 2016

Georges Osawa - Một đời hành hiệp

NGÔ ÁNH TUYẾT
Trích “Sổ tay Võ Thuật” tháng 4.1994

Vào những năm đầu thập niêm 1930, giữa Paris văn minh hoa lệ xuất hiện một người đàn ông châu Á dạy võ Nhu đạo cho người Pháp. Ông còn dạy thêm y học dưỡng sinh, triết học và nhiều bộ môn nghệ thuật của phương Đông, mà lúc bấy giờ ở châu Âu chưa ai biết đến. Người đó chính là giáo sư Osawa, trong thời gian đầu truyền bá phương pháp Thực dưỡng Macrobiotics cho người phương Tây.

Giáo sư Osawa tại Mỹ
Giáo sư Georges Osawa, tên Nhật là Sakurazawa Nyoichi, tên thuở bé là Yukikazu, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1883 tại Kyoto, cố đô nước Nhật, giữa thời rộn rịp của trào lưu Tây hóa và cảnh mờ phai của những giá trị cổ truyền mà gia đình ông là một điển hình tiên tiến. Lúc ông lên 5 tuổi, cha bỏ nhà đi xa để mặc bà vợ trẻ một mình nuôi các con thơ dại. Mẹ ông làm nữ tá viên điều dưỡng rất sùng bái y học phương Tây, nhưng lại phải giã biệt cõi đời khi tuổi mới 30 vì bệnh ho lao mà Tây y không phương cứu chữa. Sau đó, em trai ông cũng qua đời vì bệnh lao. Năm 1908 đến lượt ông phát bệnh trầm trọng : Lủng phổi và ung loét dạ dày. Nhờ áp dụng y học cổ truyền và bí quyết dưỡng sinh do mấy vị Thiền sư bày dạy, kết hợp với phương pháp tiết thực của bác sĩ Sagen Ishizuka, ông tự chữa lành mọi bệnh vào năm 19 tuổi. Từ đó ông lưu tâm nghiên cứu y học và triết học phương Đông.

Nhờ khỏi bệnh, chàng thanh niêm Osawa thi lấy bằng tốt nghiệp Cao đẳng thương mại vào năm 1912, và đến năm 1914 ông qua châu Âu lần đầu tiên khi làm việc cho công ty tàu biểnWormth Steamship của Anh. Năm 1915, ông được mời làm Giám đốc công ty Mậu dịch Nagakiri ở Kobe, và hai năm sau, ông thành lập công ty Mậu dịch Kobe, chi nhánh của Tổng công ty Kamasawa, chuyên bán sỉ tơ lụa. Năm 27 tuổi, ông chuyển qua buôn bán máy thu thanh nhập từ Pháp về, và có sáng kiến cải tiến máy quay phim và máy chiếu phim đương thời.

Năm 1925, ông Osawa lên Tokyo và bắt đầu thực hiện hoài bão của mình. Ông gia nhập Hội Thực Dưỡng của bác sĩ Sagen Ishizuka và được cử làm cố vấn, sau đó lại được cử làm Chủ nhiệm vào năm 34 tuổi và tổ chức trại hè Thực Dưỡng đầu tiên ở Hokkaido. Trong thời gian này, ông viết nhiều bài báo và 5 tập sách nói về phương pháp Tân Thực Dưỡng dựa vào Dịch lý Âm Dương.

Năm 1929, ông Osawa theo ngả đường sắt xuyên Sibêri sangParis. Tại Pháp, ông sống rất gian khổ để theo học Tây y, sinh lý học, sinh vật học tại trường Đại học Sorbonne và Viện Pasteur, đồng thời truyền bá phương pháp THỰC DƯỠNG MACROBIOTIQUE cho người châu Âu. Ông đã viết một số sách bằng tiếng Pháp và được nhiều nhà xuất bản ở Paris in ấn, đặc biệt ba cuốn : Le Principe Unique de la Science et de la Philosophie d’Extrème – Orient (Vô Song Nguyên Lý của Khoa học và Triết học Cực Đông), Le Livre des Fleurs (Hoa Đạo) và L’Acupuncture et La Médecine Orientale (Bí thuật Châm cứu và Y học phương Đông) gây được sự chú ý của nhiều người trong giới Tây y và học giả.
               
Hai ông bà Osawa và các đệ tử võ sư tại Pháp (đứng bên trái Gs Osawa là Đại sư Tamura, người đã được ông giới thiệu với Tổ Sư Uyeshiba Morihei, sáng tổ môn Aikido).

Năm 1935, Georges Osawa trở về nước, chủ trương chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới. Năm 1937, ông viết cuốn Tân Thực Dưỡng Liệu Pháp (Phương pháp Tân Dưỡng Sinh) bán ra hàng triệu bản. Năm 1940, ông sáng lập Viện Vô Song Nguyên Lý tại Ohtsu (Kyoto) giảng dạy cách sống theo Dịch Lý Âm Dương. Ông còn viết sách đả kích chủ nghĩa quân phiệt cùng những lời tiên đoán sự thất bại thảm hại của chủ nghĩa này, thí dụ hai cuốn "Thế giới Khang Kiện Chiến Tuyến" và "Làm cho người phương Tây" trở thành kẻ thù tiên đoán của các nhà lãnh đạo Nhật Bản cực đoan sẽ làm đất nước bại vong rồi trở nên rối loạn và họ sẽ bị tử hình. Tuy nhiên, ông cũng đưa ra giải pháp xử sự là trở lại đường lối ôn hòa mềm dẻo vốn có của người Á Đông trong cuốn "Nhu Đạo" (xuất bản năm 1942).

Cũng nên biết giáo sư Osawa là một võ sư Nhu Đạo thượng thừa và là bạn vong niên của Tổ sư Hiệp Khí Đạo Ueshiba. Ông có nhiều đệ tử là cao thủ võ lâm như Nakazono (6 đẳng Hiệp Khí Đạo, 6 đẳng Nhu Đạo); Mochizuki (8 đẳng Hiệp Khí Đạo, 6 đẳng Nhu Đạo). Oki (võ sư Nhu Thuật và Ninjitsu), Yasushi (võ sư Cung Đạo). v.v… Ông cho rằng võ thuật cũng là một cách dưỡng sinh; do đó, phần lớn các Trung tâm Thực Dưỡng trên thế giới đều có dạy những môn võ cổ truyền phương Đông.

Không những khuyến cáo các nhà lãnh đạo trong nước, giáo sư Osawa còn dựa vào Dịch lý Âm Dương để nhận định tình hình thế giới; ví dụ trong tác phẩm Người chiến thắng cuối cùng và vĩnh viễn, ông tiên đoán người Anh rời bỏ Ấn Độ và thánh Gandhi sẽ bị ám sát. Chính vì hoạt động phản chiến, Giáo sư Osawa đã bị chính quyền Nhật bắt giam nhiều lần, các tác phẩm bị tịch thu và ngày 25 tháng giêng 1945 ông bị giam cầm dưới hầm sâu lạnh 20 độ âm, bị hành hạ gần chết; nhờ sự vận động của các đệ tử, ông được thả ra vào tháng 6. Nhưng đến tháng 7, ông lại bị bắt và kết án tử hình. Tháng 9, ông được thả tự do khi Hoa Kỳ thắng trận vừa đúng lúc sắp bị đem ra xử bắn. Vừa ra khỏi tù, giáo sư Osawa cho xuất bản cuốn Tại sao Nhật Bản bại trận? giúp cho những nhà lãnh đạo mới một phương hướng ngoại giao thích hợp, đồng thời thành lập nhóm “Chẩn Sinh Hoạt” ở Tokyo để góp sức với các tổ chức y tế - xã hội tái tạo đất nước. Năm 1950, ông sáng lập Viện Nghiên cứu Thực Dưỡng Ignoramus House, tiền thân của Hội Y học Thực Dưỡng hiện nay ở Nhật.

Năm 1945, giáo sư Osawa cùng vợ là bà Lima rời quê hương đem phương pháp Thực Dưỡng truyền bá ra thế giới. Đầu tiên, hai ông bà đến Ấn Độ, sau đó sang châu Phi tìm gặp bác sĩ Albert Schweizer khuyên áp dụng y học Thực Dưỡng chữa bệnh ung sang nhiệt đới cho người da đen, chính ông đã đem thân thí nghiệm bằng cách để mình mắc bệnh rồi tự chữa lành trong 10 ngày với thức ăn thiên nhiên. Nhưng bác sĩ Schweitzer từ chối, nên hai ông bà rời châu Phi đi Pháp.

Từ đó, ông bà Osawa đi khắp châu Âu, mở ra những trung tâm phổ biến Thực Dưỡng và các hợp tác xã sản xuất thực phẩm thiên nhiên ở nhiều nước như Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Đức, Ý, Anh, Hòa Lan, v.v… Đến năm 1959, giáo sư Osawa sang thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên. Ông đi diễn thuyết và tổ chức trại nghiên cứu ở nhiều nơi trên đất Mỹ, thu hút được hàng chục người theo phương pháp Thực Dưỡng Macrobiotics. Trong thời gian này, ông viết hơn chục cuốn sách như La Philosophie de la Medecine d’Extrème-Orient (Y triết phương Đông), Zen Macrobiotic (Phương pháp Thực Dưỡng), L’Ere Atomique (Thời đại nguyên tử), The Book of Judgement (Trí phán đoán luận), v.v… và xuất bản nhiều tờ báo như Yin Yang (Âm Dương) ở Pháp, Macrobiotic News (Tin Tức Thực Dưỡng) ở Mỹ. Đặc biệt năm 1963, trên báo New York Herald Tribune ra ngày 18 tháng 8 có đăng lời ông tiên đoán Tổng thống Kennedy bị ám sát tại Dallas.

Ngoài y học, giáo sư Osawa còn áp dụng Dịch lý Âm Dương vào khoa học kỹ thuật như biến đổi Socium ra Potassium, chế vàng, chế xăng dầu không đông dưới 0o C, tạo mẫu máy bay cá nhân (gọi là “con rận trời Nhật Bản”),v.v…

Ngày 16 tháng 5 năm 1965, hai ông bà Osawa sang thăm Việt Nam “lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng”. Sau đó, giáo sư Osawa đã viết nhiều bài đăng trên các báo ở Pháp, Mỹ, Nhật kêu gọi thế giới giúp dân tộc Việt Nam vãn hồi hòa bình.
                
Ông bà Osawa thăm Việt Nam (1965)

Ngày 24 tháng 4 năm 1966, lúc 5 giờ chiều, trong lúc đang chuẩn bị tổ chức Đại hội hòa bình thế giới ở Hiroshima, giáo sư Osawa đột ngột qua đời. Để tưởng niệm một công dân ưu tú và là một vĩ nhân thế giới, chính phủ Nhật đã đưa hình ảnh của giáo sư lên màn ảnh truyền hình cho dân chúng xem. Tác phẩm cuối cùng của ông là "Giáo dục ý chí".
                                                                                                     
NAT