Friday, July 29, 2016

NOMURA, "CẬU NHÓC YẾU ỚT" VÀ 3 CHỨC VÔ ĐỊCH OLYMPIC

Tadahiro Nomura? Ai thích judo cũng biết Tadahiro Nomura (sinh năm 1974) là người duy nhất từng 3 lần giành chức vô địch Olympic (1996, 2000, 2004) ở môn judo. Nhưng chắc không mấy ai ngờ khi còn nhỏ, Nomura đấu tập toàn thua, bị chê là ốm yếu, thậm chí từng được cha khuyên nên nghỉ hẳn judo. Anh tập judo từ năm 3 tuổi trong võ đường do ông nội mở. Nomura có chú ruột là võ sư Toyokazu Nomura từng vô địch Olympic năm 1972 tại Đức (hạng cân -72 kg). Cha của Nomura là huấn luyện viên trưởng của CLB Judo trường trung học Tenri và là huấn luyện viên đội tuyển nam Nhật Bản. Sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống judo đến vậy nhưng thể trạng của Nomura khiến cả nhà ngán ngẩm. Nguyên nhân nào đã giúp Nomura đạt được kỳ tích cho đến giờ vẫn còn là độc nhất trên thế giới? Nomura đã chia sẻ trọn vẹn cho tờ L'Esprit du Judo trong dịp được mời sang Pháp dạy ở các câu lạc bộ và liên đoàn nước này hồi tháng 6.


**
- Khi 3 lần vô địch Olympic thì người ta có... bình thường không?
Không. Tôi đã trải qua những điều rất đặc biệt. Nhưng tôi cũng như bất kỳ người nào trên trái đất này. Tôi không nghĩ mình là siêu sao. Tuy tôi là người duy nhất từng 3 lần vô địch Olympic nhưng có nhiều vận động viên khác cũng đạt được nhiều kết quả tốt, chẳng qua là họ ít được giới truyền thông chú ý tới. Có thành tích tốt thì rất tuyệt nhưng điều quan trọng nhất với tôi là đã để lại hình ảnh tốt đẹp trong lòng mọi người.
- Điều gì đã giúp 3 chiếc HCV Olympic đến với anh mà không đến với người khác?
Thiệt tình thì tôi cũng không biết. Nhiều vận động viện cũng nỗ lực tập luyện như tôi, thậm chí còn hơn tôi. Nhiều người có thể còn yêu judo hơn tôi. Nhưng tôi lại là người giành được 3 chức vô địch ấy. Điều duy nhất tôi biết là tôi luôn tìm kiếm sự chuẩn xác, tỉ mỉ. Mỗi một động tác đều có thể có tác dụng gì đó. Có thể đây là sự khác biệt giữa tập luyện thật nhiều và tập luyện tốt. Tôi bắt đầu tập judo từ khi rất nhỏ, lúc 3 tuổi và tôi chưa bao giờ có được dáng vóc lý tưởng của một võ sĩ judo, ngay cả khi đã vào đại học (Tenri). Cha của tôi, vốn là một võ sư rất giỏi, thậm chí từng nói rằng nếu tôi muốn và nếu judo thật sự không dành cho tôi, tôi nên nghỉ luôn.
- Anh nói nghiêm túc à?
Chính ông nội đã dạy seoi nage cho tôi khi tôi còn nhỏ xíu. Còn cha tôi là huấn luyện viên ở trường Trung học Tenri (trực thuộc Đại học Tenri). Tôi luôn cố gắng tập luyện kỹ thuật mà ông nội đã dạy, đó là con đường duy nhất của tôi. Tôi nhỏ con nên thường phải đấu với những người lớn hơn và nặng hơn. Và đây chính là thách thức luôn in sâu trong tâm trí tôi. Tôi phải tạo nên con đường riêng, phong cách riêng, bằng cách chú ý đến từng chi tiết từ cổ tay, ngón tay, tập theo kiểu riêng của mình: bàn tay và ngón tay phải uyển chuyển; tay nắm tay áo của uke thì kéo lên cao; vào đòn trong 3 bước, bước đầu ngắn, bước thứ 2 vào sâu hơn và bước cuối cùng kéo chân về sau để hai chân ngang bằng nhau, để tay trước vai, bật hông, úp vai để quật ngã...
- Vì sao anh không dừng bước như lời cha khuyên?
Tuy tôi rất dở, nhưng tôi muốn chiến thắng! Tôi muốn giỏi hơn người khác và tôi không muốn bỏ cuộc. Khi ấy, tôi không chỉ muốn thắng một đối thủ tại một giải đấu mà muốn tìm được cách thức để có thể chiến thắng lâu dài. Tôi nhìn xa về phía trước. Vậy nên, tôi nhất định phải trở thành chuyên gia về một đòn nào đó và có thể thực hiện đòn đó hoàn mỹ nhất có thể. Đó cũng là lý do vì sao tôi không tập tạ nhiều. Mọi thời gian mà tôi có, tôi dành để hoàn thiện đòn seoi nage của tôi, đánh đứng, đánh quỳ...
- Vì sao anh chọn seoi nage?
Ông nội tôi đã dạy đòn này cho tôi và đây là điều tôi luôn khắc ghi trong lòng. Ngoài ra, tuy thường thua khi đấu giải nhưng khi đấu trong lúc tập luyện, có nhiều lần tôi đã dùng seoi nage để đánh té những người to hơn, nặng hơn. Tôi tự nhủ là để lặp lại những pha này, cần phải nắm vững được một bí quyết gì đó. Tôi rất thích cảm giác quật được đối thủ thật mạnh về phía trước như khi quật được người to lớn hơn bằng seoi nage. Vậy nên tôi chọn đây là đòn ruột và những đòn khác thì để sau. Thời còn ở Đại học Tenri, đôi lần tôi thử tập theo kiểu khác nhưng thầy Shinji Hosokawa đã chuyển hướng tôi về "trọng tâm" seoi nage. Tôi cũng có tập uchi mata, nhưng tôi chưa từng đánh được đòn đó như mọi người nên tôi đánh theo kiểu của tôi.
- Anh tập luyện thế nào?
Tôi không tìm một cách thật đặc biệt nhưng tập luyện theo kiểu mềm dẻo, uyển chuyển, di chuyển linh hoạt, cảm nhận được thời điểm ra đòn. Một lần nữa, tôi nhắc lại là vẫn có nhiều người tập uchi komi, nage komi nhiều hơn tôi, nhưng điều tôi muốn đạt được và tôi nghĩ cũng là điều tạo nên sự khác biệt là chất lượng mỗi khi vào đòn: phải chú ý từng chi tiết như cách kéo tay áo, hướng của hông, vị trí và điểm tựa của chân, chỗ đặt ngón tay trên áo uke. Tôi đã tập đi tập lại từ năm này đến năm khác cho đến khi các động tác trở nên hoàn hảo và cơ thể của tôi thực hiện hoàn hảo đòn seoi nage. Ở mỗi lần vô đòn gió, vô đòn với uke thì đòn phải là một "khuôn", luôn chuẩn như nhau.
Tôi tập trung vào từng chuyển động của cơ thể từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc. Tôi nghĩ khi ra ngoài, tôi cũng biết thư giãn, giải trí và quan tâm đến những chuyện khác. Nhưng một khi đã bước lên thảm thì phải tập trung tối đa vì không có điều gì là ngẫu nhiên cả. Số giờ tập luyện cũng không phải là quan trọng nhất. Nhưng tôi luôn khắt khe với bản thân khi tự bắt buộc mình phải giữ sự tập trung cao độ nhất trong công việc. Và đây chính là điều đã làm tôi trở thành một vận động viên giỏi. Nghĩ lại thì có thể đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi khi nãy của anh. Tôi nghĩ một nhà vô địch tương lai sẽ biết mình thiếu sót điều gì và sẽ nỗ lực để đạt được điều đó. Tôi đã rất tập trung vào mục tiêu của mình. Tôi không thấy nhiều người có khả năng tập trung cao như tôi. Và có thể đó là yếu tố tạo nên sự khác biệt.
- Khi nào thì anh biết mình đã mạnh hơn?
Trận đấu giải đầu tiên trong đời, tôi đã thua một bạn nữ. Sau đó thì tôi vẫn rất tệ. Tôi đã không đạt được thành tích cấp vùng nào khi ở lứa tuổi thiếu niên. Lần đầu tiên tôi thấy mình tiến bộ là vào năm cuối của trung học khi thắng ở một giải liên vùng. Năm ấy tôi 18 tuổi. Nhưng ngay sau chiến thắng đó, tôi lại thua ở vòng 1 của giải toàn quốc. Vậy nên cảm giác "có tiến bộ" thật... ngắn ngủi! (Cười). Tôi tự nhủ rằng mình đã lầm... Mọi thứ chỉ thật sự rõ hơn vào năm 1994, ở năm 2 đại học, tôi đã vào đến chung kết giải trẻ thế giới.
- Có lúc nào anh từng cảm giác mình trở nên bất khả chiến bại?
Thật khó để trả lời. Có những thời điểm mà bạn thấy mình rất mạnh vì hàng loạt điều thuận lợi vừa xảy ra. Chẳng hạn sau một buổi tập tốt và bạn cảm thấy mọi thứ thật hoàn hảo. Trong thi đấu, cảm giác trên đã đến với tôi vào Olympic Sydney 2000. Tôi nhập cuộc với tinh thần cực kỳ vững vàng và kỹ thuật cũng đang rất tốt.
4 năm trước, ở Olympic Atlanta 1996, tôi cũng từng có cảm giác đã có một giải đấu tuyệt vời, đặc biệt là trận đấu ở vòng 2, gặp vận động viên người Nga Ozhegin. Anh ấy vừa giành chức vô địch thế giới vài tháng trước đó ở Chiba, Nhật Bản. Ozhegin rất mạnh. Tôi khi ấy vẫn còn là sinh viên năm 4, đã thắng được số 1 thế giới để cuối ngày cũng trở thành người số 1. Tôi còn trẻ, tôi có được ngọn lửa của tuổi trẻ nhưng cũng có điểm yếu là thiếu kinh nghiệm. Trước giải đấu, tôi nghĩ rằng đây có thể là kỳ thế vận hội đầu tiên và cuối cùng của mình nên phải chơi tới cùng. Với tinh thần đó, tôi đã quyết định giành thế chủ động, liên tục tấn công trước Ozhegin. Cách đấu này đã hạn chế phần nào khả năng của anh ta và mở ra cơ hội cho tôi. Không ai nghĩ tôi sẽ thắng, trừ tôi. Anh ta dẫn trước tôi 2 yuko cho đến 10 giây cuối của trận đấu, tôi tấn công một lần nữa và ghi điểm waza ari. Trận đấu với Ozhegin thật sự là bước ngoặt của sự nghiệp và của cuộc đời tôi. Đó cũng là cơ sở để tôi luôn nhìn và làm mọi việc theo cách của riêng tôi.
- Đó có vẻ không phải kiểu của người Nhật...
Đến một trình độ nào đó, tập luyện là do bạn. Tôi từng suy nghĩ và hiểu ra rằng khi một võ sĩ không tiến bộ nữa, thường là do người này đã nhầm lẫn khi xác định điều gì là quan trọng. Chính tôi đã quyết định trở thành một nhà vô địch nên tôi, chứ không ai khác, phải là người tìm ra giải pháp, tự chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Đúng là cách nghĩ đó khiến tôi hơi khác so với những vận động viên tại Nhật. Nhưng tôi cũng không đơn độc: để đạt được những thành quả mà mọi người biết, tôi đã được cha và thầy Hosokawa giúp rất nhiều. Cho đến hết trung học, ông nội và cha là những người luôn bên cạnh tôi, sau đó, thầy Hosokawa là người đã giúp tôi phát huy những tố chất của mình.
- Vậy là ở Sydney 2000, anh từng có cảm giác bất khả chiến bại?
Trước ngày thi đấu, tôi đã rất căng thẳng, tôi sợ sẽ có gì đó không ổn nhưng rồi tôi lấy lại sự tập trung và tự nhủ rằng tôi sẽ đấu với judo của tôi và không có lý do gì để tôi thua. Và để giải tỏa căng thẳng, tôi tự đặt ra mục tiêu - mà trước đây tôi từng làm vài lần - thắng mỗi trận đấu bằng một đòn khác nhau. Đúng là nói thì dễ hơn làm nhưng ở Sydney tôi đã làm được, nhất là khi các đối thủ đều chờ đợi tôi sẽ đánh seoi nage. Thậm chí có người từng hỏi tôi rằng tôi có thể vô địch Olympic bằng một kỹ thuật nào khác ngoài seoi nage hay không. Coi như một lời thách thức.


- Vì sao anh tiếp tục đấu lâu đến thế sau khi đã đạt được thành tích lừng lẫy? Năm 2013, tôi gặp anh ở Giải vô địch châu Âu mở rộng tại Thụy Sĩ (Swiss Open) và khi ấy anh còn nói đang tính chuyện đấu trở lại...
Trước đây, tôi luôn nói rằng tôi sẽ giải nghệ bằng một chiến thắng để chứng tỏ tôi là một judoka giỏi. Năm 2000 tôi cũng từng nghĩ chuyện chấm dứt sự nghiệp khi đạt tới đỉnh cao.
- Vậy điều gì đã làm anh vẫn quay lại đấu trường Olympic sau mỗi lần muốn giải nghệ?
Có lẽ vì lần nào tôi cũng tìm được lý do để tự bào chữa (cười). Ở Sydney, tôi 26 tuổi và sau đó tôi nhận ra mình sẽ 30 tuổi vào Olympic Athens 2004. Như vậy có thể kết thúc vào giải này...
- Vô địch Athens 2004 sau gần 2 năm không hề tập luyện...
Đúng vậy, tôi đã tạm ngưng một thời gian. Sau giải Sydney, mọi thứ không rõ ràng cho lắm: Tôi muốn nghỉ vì tôi chán đấu rồi? Hay tôi muốn nghỉ vì tôi đã giành 2 chức vô địch Olympic? Tôi có thể tiếp tục đấu nhưng cũng có nguy cơ tôi sẽ không giành được chức vô địch thứ 3. Mọi người có vẻ cũng nhận ra sự phân vân của tôi, họ hỏi tôi muốn thế nào... Tôi cảm thấy mất phương hướng. Điều duy nhất tôi chắc chắn là tôi muốn tự mình quyết định. Vậy nên tôi chuyển sang San Francisco (Mỹ) ở 1 năm. Có thể nói, giống như tôi chạy trốn. Ở đó, không có judo, không ai biết tôi. Tôi có thể nhẹ đầu vì đã để sang một bên những gì khó khăn. Tôi có thể dành thời gian cho vợ (Nomura kết hôn với người mẫu Yoko Sakai vào năm 2001), sống một cuộc sống bình thường. Khi đã có thời gian, tôi tự hỏi mình muốn làm gì và có thể làm gì: đi dạy, đi học lại... Nhưng rất nhanh chóng, có điều gì thôi thúc tôi: giành chiếc huy chương vàng Olympic thứ 3. Mất nhiều thời gian nhưng đó là quyết định của tôi... Dù rằng sau 2 năm không tập luyện, khi quay lại thảm tập thiệt là... tơi tả.
- Vậy là dọn đường để tới Athens...
Khi ấy, tôi biết là sẽ khó khăn, nhưng tôi đã 2 lần thành công nên cứ thử! Khi tập lại, tôi thấy rất ổn nhưng các giải đấu thì toàn thua: thua ở cúp Kodokan vào tháng 11.2002, rồi thua giải ở Ba Lan vào tháng 3.2003. Tôi còn nhớ, ở giải đó, tôi bị một võ sĩ không mạnh lắm thắng dễ dàng bằng kata guruma. Anh ta thắng dễ tới mức tôi thật sự xấu hổ, tôi có cảm giác mình đã là trò cười. Ngay ở vòng đấu vớt, tôi cũng thua vì 1 điểm shido. Xung quanh tôi, mọi người đều nói: "Nomura hết thời rồi. Anh ta lẽ ra nên giải nghệ sau Olympic". Khi ấy là tháng 3.2003, Olympic 2004 đã gần kề. Liên đoàn Judo Nhật Bản cũng nói là tôi sẽ không được dự giải vô địch thế giới vào tháng 9.2003 ở Osaka.
- Cảm giác thất bại thế nào?
Tôi nhận ra rằng mình sợ đối thủ ra đòn và thắng điểm ippon. Một cảm giác chưa từng có. Vậy nên tôi đánh thủ, để mặc đối thủ áp đặt nhịp độ trận đấu. 3 tuần sau giải ở Ba Lan, tôi lại thua ngay vòng 1 của Giải vô địch Nhật Bản. Tôi có thể tự bào chữa là mình chỉ mới quay lại sau 2 năm nghỉ hẳn nhưng... (nhăn mặt). Tôi thấy xấu hổ. Tôi cười nhưng chỉ là để che giấu rằng tôi không thể chấp nhận thất bại. Tôi vừa thua 2 ippon chỉ trong 1 ngày, tôi, Nomura. Quá lắm rồi!
- Anh xoay chuyển tình hình thế nào?
Chính vì ai cũng nghĩ tôi hết thời và bảo tôi nghỉ đi nên tôi quyết tâm làm lại. Nhưng tôi cũng hiểu rằng mình phải thay đổi điều gì đó.
- Điều gì?
Đó là lần đầu tiên tôi thấy ghét judo. Thật ra, tôi đã muốn dừng lại. Nhưng rồi tôi tự nhủ là Olympic không phải sẽ diễn ra ngay vào ngày mai, vẫn còn 1 năm để quay lại và tất cả phụ thuộc vào tôi. Sợ thua ư? Tôi đã thua rồi nên không còn gì có thể tệ hơn. Tôi lại tự nhủ rằng dù sao mình cũng là một tài năng judo nên những tố chất vốn có không thể biến mất. Gi - kỹ thuật, tôi có. Tai - cơ thể, tuy có phần mệt mỏi nhưng cơ thể tôi vốn được rèn luyện bằng judo nên tôi vẫn có thể tin tưởng được. Nhưng Shin - tinh thần, thì tôi cần thay đổi. Tôi đã từng là một nhà vô địch nhưng chính danh hiệu đó đã làm tôi trở nên bé mọn và khiến tôi căng thẳng. Tôi hiểu rằng tôi phải tìm lại vị thế bằng judo của mình. Tôi lại tập luyện những đòn sở trường như thời trẻ, với căn cơ đã được tích lũy và một phong cách judo cởi mở.
- Đó là cách anh đã giành chức vô địch ở một giải đấu toàn quốc không lâu sau đó?
Đúng, tôi đã ra đòn, tiến tới và chiến thắng.
- Anh cảm thấy hoàn toàn lấy lại phong độ?
Có một bước quan trọng là giải vô địch thế giới tại Osaka mà rốt cuộc tôi được cho đấu. Ở vòng 1/8, tôi gặp Lounifi, VĐV người Tunisia. Tôi tấn công rất nhiều, nhưng không đủ. Trong một lần tấn công, tôi bị phản, rồi bị đè và thua. Tôi đã rất tức giận khi để thua như thế. Tôi vừa thấy mệt mỏi, vừa thất vọng. Tôi lại càng thấy tiếc hơn vì lúc đấu vớt, tôi đã đấu rất tốt. Ngay lập tức, tôi lại tập trung vào mục tiêu Olympic.
- Tại Athens 2004, anh lại bị áp lực và căng thẳng?
Giải ở Athens rất khác so với 2 kỳ thế vận hội trước đó nhưng khi đứng trước đối thủ, tôi tự nhủ rằng tôi đã phải trải qua quá nhiều khó khăn để có thể thất bại tại đây. Tôi đã bỏ quá nhiều công sức.
Nói chung, bạn thường cảm nhận được đối thủ ngay khi vừa nắm áo. Tại Athens, tôi cảm thấy mình nhỏ bé nhưng tôi không hề sợ. Nói cho dễ hiểu hơn: tôi không cảm thấy mình mạnh hơn các đối thủ nhưng tôi cũng không có cảm giác mình sẽ thua. Năm 2000, mọi thứ thật hoàn hảo, đâu ra đó, năm 2004 thì khác.
- Anh đã đạt được điều duy nhất và đã kể ra những gì phải hy sinh để đạt được điều đó. Nhưng vì sao anh vẫn muốn tiếp tục ở Olympic Bắc Kinh 2008, thậm chí là London 2012... Một nỗi ám ảnh?
(Cười) Thi đấu! Thật ra mỗi lần mỗi khác. Tại Athens, không như 2 kỳ Olympic trước, tôi không tự nói rằng mình sẽ giải nghệ ở đỉnh cao. Như tôi đã nói, tôi cũng có nhiều thay đổi. Ở tuổi 30, bạn dễ chấn thương hơn, mỗi buổi tập sẽ ê ẩm hơn nhưng mỗi giải đấu kể từ sau Athens 2004 đều cho tôi cảm giác đã tiến bộ và làm tôi vui. Giống như một giai đoạn mới trong cuộc đời judoka của tôi. Không còn là một judo như trước, cách phân tích, nghiền ngẫm cũng khác. Vì vậy, tôi đã muốn đấu thêm một kỳ Olympic nữa. Kể cả khi Liên đoàn Judo Nhật đã chọn Hiraoka cho Olympic 2008. Cho đến năm 2008, tôi là một vận động viên chơi judo nhưng sau đó, tôi hiểu rằng judo là cuộc đời của tôi. Thật khó để làm điều khác.
Khi tôi còn có thể lên thảm tập và thấy hạnh phúc thì vì sao phải chấm dứt? Cũng vì vậy mà năm 2013, tôi đã đi đấu giải châu Âu mở rộng tại Thụy Sĩ (Swiss Open). Liên đoàn Judo Nhật Bản không muốn tôi đi. Tôi thì muốn, nên tôi tự bỏ tiền ra để tham dự.
Nói thật lòng thì khi biết không được chọn để đấu ở Olympic 2008, tôi đã rất rất buồn, đến mức không muốn xem các trận đấu qua truyền hình. Sau đó, tôi đã sang một trang mới.
- Sau tất cả, anh đã trở lại cuộc sống bình thường?
Tôi không còn bị áp lực nữa và có nhiều người nói rằng mặt tôi nhìn hiền hơn, ít khắc khổ hơn. Đó là dấu hiệu của sự bình an. Judo đã mang lại cho tôi rất nhiều. Bây giờ là một thời kỳ khác: tôi đi đây đi đó, chẳng hạn chuyến sang Pháp lần này. Tôi đã gặp nhiều võ sư tại Pháp, họ có nhiều kinh nghiệm hơn tôi và vẫn chăm chú xem tôi thực hiện kỹ thuật. Thật ý nghĩa. Và đây cũng là một thách thức đòi hỏi tôi phải thực hiện tốt.
- Anh thích dạy không?
Có thể, nhưng tôi vẫn chưa xác định sẽ lựa chọn điều gì. Tương lai? Có thể không hoàn toàn trong judo nhưng sẽ với judo vì tôi vẫn còn muốn khám phá nhiều điều.
- Anh có thể trở thành huấn luyện viên, như Kosei Inoue, Keiji Suzuki...
Thật tình là tôi không biết, tôi chưa quyết định. Liệu tôi sẽ giống như họ hay muốn tự do hơn, huấn luyện ở nước ngoài thay vì ở Nhật...
- Anh nói nghiêm túc chức? Ở Pháp chẳng hạn?
Tôi hoàn toàn "mở cửa" với mọi cơ hội. Tôi không muốn tự giới hạn. Nói một cách nghiêm túc, tôi có thể tưởng tượng minh đi từ võ đường này sang võ đường khác trên khắp thế giới để truyền đạt lại những gì tôi tường tận. Có thể hơi khó về mặt gia đình nhưng du lịch là cách để tiến bộ. cách để tiến bộ.

Nguyễn Ngọc Lan Chi
https://www.facebook.com/lanchi.nguyenngoc.56/posts/10153904747009538



The legend of judo Tadahiro Nomura (JPN), the only one who has won three Olympic gold medals.



Wednesday, July 27, 2016

Nguyên lý bất phân tranh trong võ đạo chân chính

Dưới gốc độ của một Thầy lang Tibetan...
"Không tranh thì không ai tranh với mình được"...
Khi nói tới võ, ngươì ta nghĩ ngay tới một nghệ thuật chiến đấu, nghĩa là phải có giao tranh. Vì vậy, nói tới bất phân tranh trong võ thuật có vẻ như một nghịch lý.
Tuy nhiên,võ thuật không đơn thuần là một nghệ thuật chiến đấu, mà còn là đạo, là một triết lý sống. Điểm khởi đầu và kết thúc của võ đạo chân chính là nguyên lý bất phân tranh.
Để tìm hiểu nguyên lý này, ta cần xem xét tới căn nguyên của các môn võ cổ Đông phương: lý thuyết nhất nguyên phân cực của thuyết Âm-Dương. Theo thuyết này, vũ trụ và mọi vật bên trong nó đều phát sinh từ một thể thống nhất mà người Trung Hoa gọi là Thái cực, người Ấn độ gọi là Cũnyatâ, người Nhật gọi là Kù (AiKi), dịch theo nghĩa Triết học là “vũ trụ tinh khí tiền phân cực”. Ngày nay, vật lý học hiện đại cũng giả định rằng vũ trụ được phát sinh từ một vụ nổ lớn (Big Bang) của một thể thống nhất. Triết học Đông phương quan niệm rằng Thái cực là một thể thống nhất, trong đó không có khái niệm nóng-lạnh, không có độ xa-gần không gian, không có sự lâu-mau thời gian, không có đứng yên, không có chuyển động… Thái cực là một uy lực uyên nguyên tự tại, vô thủy,vô chung. Chỉ sau khi phân cực tạo thành vũ trụ, các khái niệm nhị nguyên nóng-lạnh, xa-gần, lâu-mau, tĩnh-động mới hình thành.
Ngày nay,bị giam hãm trong một thế giới nhị nguyên,con người thường cho rằng tranh đấu là lẽ đương nhiên, muốn tồn tại phải tranh đấu, mà họ quên đi mất bản chất, hình thể của vũ trụ. Chính điều này đã làm cho con người dần dần tách rời mối liên hệ giưã mình và vũ trụ, nghĩa là dần dần đánh mất đi sức mạnh đích thực của mình.
Mục đích tối hậu của võ đạo là đưa con người tìm về với căn nguyên bản thể của mình, từ đó phát lộ được sức mạnh chân chính và đích thực của mình.Vì vậy, trong võ đạo phải trừ tuyệt mọi ý nghĩ nhị nguyên về giao đấu, hơn-kém để giác ngộ được sự thống nhất giữa vạn vật, giác ngộ được cội nguồn của vạn vật là Thái cực. Điều này giải thích vì sao võ đạo lại khởi đầu và kết thúc bởi nguyên lý bất phân tranh.
Nguyên lý bất phân tranh phát biểu rằng bởi vì vũ trụ và mọi sự vật bên trong nó đều phát sinh từ một nguồn gốc,nên mọi hình thức giao tranh đều là phi lý và đi ngược lại quy luật của vũ trụ. Đây là nguyên lý chính yếu của võ đạo Đông phương, và có ghi trong Bushido- bộ luật võ sĩ đạo của các chiến binh samourai Nhật bản.
Có một số bạn trẻ có luyện võ nói:”Đồng ý! Nghe thì hay lắm! Nhưng khi có một kẻ lăm lăm nắm đấm xông vào ta, thì áp dụng nguyên lý bất phân tranh thế nào đây?”.
Thực ra, nguyên lý bất phân tranh, cũng như nhiều nguyên lý khác, có nhiều tầm mức và phạm vi áp dụng khác nhau.
Ở mức thấp nhất, là khi ta bị đưa đẩy tới một trận chiến đấu không thể tránh khỏi. Trong đời sống, cũng có khi bắt gặp tình huống này, ví dụ như ta gặp trộm cướp hay côn đồ. Trong một trận chiến đấu, ta chỉ có thể bị bại nếu như ta trúng đòn của đối phương. Mà ta chỉ có thể trúng đòn của đối phương khi ta chịu lãnh đòn đó, tức là lấy lực của mình chọi với lực của hắn. Trong trường hợp này, nguyên lý bất phân tranh được biểu lộ bằng cách dùng lực của đối phương, nương theo lực của đối phương để chế ngự đối phương, nói cách khác là ta để cho hắn sử dụng lực của hắn theo ý của ta, và bị đánh bại do lực của hắn.Võ sư Jigoro Kano, người sáng lập ra môn Nhu đạo, nói: “Ta có ba lực, địch thủ có bảy lực. Nếu ta đem ba lực của ta chọi với bảy lực của địch thủ, nhất định ta sẽ bị thua. Nếu ta biết lợi dụng lực của địch thủ, ta có mười lực, còn hắn chỉ có bảy. Phần thắng chắc chắn thuộc về ta vậy”.
Nguyên lý bất phân tranh đã nâng võ thuật thoát khỏi lẽ tầm thường “mạnh được, yếu thua”. Thực ra,nếu cứ khỏe là thắng thì chả cần tới võ thuật để làm gì.
Nhưng đó mới là nguyên lý bất phân tranh ở mức độ thấp nhất, nghĩa là dùng trong chiến đấu. Một qui tắc trong chiến tranh, mà bất kỳ một samourai nào tại Nhật cũng phải học, có nói về các mức độ chiến thắng:
Mức thấp nhất là thắng trận sau khi giao tranh, tức là ta giành chiến thắng bằng cách đánh bại đối thủ của ta.
Mức trung bình là giao tranh sau khi thắng trận, tức là ta dẫn dụ đối thủ vào những điều kiện tất yếu dẫn tới thất bại, rồi mới đánh bại hắn.
Mức cao nhất là thắng trận mà không cần giao tranh, nghĩa là ta khuất phục địch thủ bằng lẽ phải và tinh thần yêu thương.
Nếu phải thắng trận,tại sao ta lại không thắng theo lối cao thủ nhất ?
Thật thà mà nói, đó còn là lối chắc chắn và an toàn nhất, vì chả cần đấm đá gì cả.
Trong đời sống, trừ ra một vài trường hợp cực kỳ hãn hữu, ta có thể tránh được mọi vụ cãi lộn, miễn là ta luôn giữ được điềm tĩnh và diệt bỏ được tư tưởng về chiến đấu trong tim ta.
Điều này đòi hỏi một tinh thần mạnh mẽ và một ý chí kiên định.
Những kẻ yếu đuối, hay khóc lóc than van, chẳng chống cự ai và cảm thấy yên ổn khi mình không chống lại ai, thì không phải là những người thấm nhuần nguyên lý bất phân tranh.
Đem nhốt mọi lời nói và hành động của đối thủ vào trong lòng ta, đó cũng không phải là bất phân tranh thực sự ; đó là sự chịu đựng. Cho dù miệng ta không nói ra, nhưng trong lòng ta rất đau đớn và sôi sục muốn trả thù. Đó cũng là một hình thức đấu tranh.
Cái bất phân tranh mà chúng ta đang nói đến chỉ hình thành nếu ta không ôm ấp một mối căm thù nào với bất cứ ai, với một lòng khoan dung như biển cả, thu nhận được mọi con sông, ta vẫn giữ được sự bình tĩnh trong tâm hồn ta.
Mỗi khi có sự việc gì xảy tới, ta nên giữ sự điềm tĩnh, xem xét sự việc với lòng khoan dung và lẽ công bằng. Khi ta đã xem xét sự việc một cách tỉnh táo, với tinh thần thiện chí, lẽ dĩ nhiên người cũng đem thiện chí đối đãi với ta, hành động của ta và người sẽ tìm ra con đường đúng. Đó chính là giải pháp dẫn tới tinh thần yêu thương và hòa hảo.
Bạn bè trong võ lâm thắc mắc :”Hay lắm.Nhưng điều này chỉ áp dụng được khi người cũng điềm tĩnh và công bằng như ta. Mà đã xô xát thì ít người biết điều lắm.”
Thực ra, lòng khoan dung cảm hóa được cả thú dữ. Chuyện xưa có kể rằng một võ sư có một môn đệ rất tài giỏi. Một ngày kia, khi đi chơi với bè bạn, bất ngờ bị một con ngựa dữ đá, anh đã lẹ làng tránh khỏi. Bạn bè phục lắm, và về kể lại cho vị võ sư. Ông chỉ lắc đầu mà bảo rằng chả có gì là tài giỏi hết. Mấy người học trò liền lập mưu lừa cho vị võ sư cho đứng gần con ngựa kia. Suốt cả buổi ông ung dung đứng đó trò chuyện với các môn đệ mà không có gì xảy ra.Về sau, trong buổi tập, ông giảng một câu :”Chính thái độ hòa nhã và tinh thần yêu thương làm cho người mất tinh thần chiến đấu với ta.”
Đó chính là nguyên lý bất phân tranh áp dụng ở mức độ cao nhất vậy. Muốn đạt tới trình độ này, người luyện võ phải khổ luyện từng phút, từng giây không lơi lỏng, phải giữ cho mình một tinh thần trong sáng, một sự khoan dung, một tình yêu thương rộng lớn và luôn theo lẽ công bằng.
Vì nguyên lý bất phân tranh dẫn dắt con người đi theo con đuờng đúng, với tinh thần yêu thương và hòa hảo,nên nó là đỉnh cao, là điểm kết thúc của võ đạo.
Thấu triệt nguyên lý này, người với người cùng có một tinh thần mạnh mẽ, một tâm hồn cao thượng, và cuộc sống sẽ tràn đầy hòa bình cùng tình yêu thương.

WHAT IS JUDO THERAPY?

Roles of Judo therapist


Judo therapist was popular as "bonesetter"
"The Judo Therapist" is a person with the national license to treat damage of bones, joints, muscles and soft tissues by the conservative therapy (without operation) based on Japanese traditional medicine or Judo therapy skills (which were popular and trusted by people from a long time ago) and Western medical knowledge.


Historically-developed, patient-friendly treatment skills without medical equipment used
The treatment skills unique to Judo therapy are not clearly standardized due to a lot of schools handed down orally except for a common consideration that man's natural move, self-medication and immune strength are to be respected. Therefore it can be said that Judo therapy contains all the theory-based treatment skills without using medical equipment existing in the world today. Thus it is very profound.
In recent years, physical medicine and kinesiology using science-based electric equipment (low frequency, high frequency, supersonic wave, etc.) has become popular. In Judo therapy, however, these methods are considered as complementary to the treatment without using medical devices.

Medical act based on Judo Therapy Law
The Judo therapist license and the operation is controlled by the Judo therapist Law and related enforcement regulations issued in 1970 as a single law.
In these regulations, the Judo therapist's work is stipulated, and the provisions related to the right to open a clinic of Judo therapy, the treatment of bone fracture and bone dislocation based on the premise of a doctor (excluding first aid) are contained.
The subjects for national licensing examination for Judo therapist specified in these regulations are anatomy, physiology, kinematics pathology summary, hygieiology, public health study, general clinical medicine, surgery summary, orthopedic surgery, rehabilitation medicine, Judo therapy theory and related laws. Through these subjects, we can know that today's "traditional medicine (national medicine) is closely connected with the special knowledge of the modern Western medicine.

History of Judo therapy

Specialists to treat damaged bones and joints existed before recorded history
History of Judo therapy started when people treated external injury for the first time, but as historical evidence recorded, there is a description about the specialist who treated bone fracture and joint damage in an ancient code made in 701. This must be the birth of the traditional medicine (national medicine) in Japan.
In the civil war period when samurais gained power, surgeons called "kinsoi" treated bone fracture and displacement for samurais injured in the fighting, according to a record.


Martial art medicine developed from Jujutsu
The headstream of Judo therapy was "kung fu" and "redressment", which was transferred by asylum seekers from China in the beginning of the 17th century and developed into the headstream of Japanese jujutsu to spread nationwide as the "skills for both killing and curing." This is why there are many schools of Judo therapy handed down orally.
In 1746, a book titled "Bonesetting Treatment Book" was written, which is said to be the oldest osteopathy book in Japan. Also, in a book titled "Redressment Arcanum", a method of traumatic bone dislocation therapy is described as a Judo first aid.
Moreover, in 1807, "Redressment Models" was written and redressment was recognized as an art of medicine.
In the Edo period when various Japanese cultures were developed, Western studies flourished and Western science books in many fields were translated into Japanese. In the Judo therapy field, Western knowledge was adopted and Judo therapy was blended with Western medicine.

Social recognition of Judo therapy
In 1874 Health Policy was issued, by which Judo therapists entered the age of difficulties to survive. In 1919 official regulations were revised by the "movement to petition the official recognition of Judo therapist", and in 1920 the first certification examination was conducted as part of the qualification system.

Health insurance coverage
In 1936, the health insurance coverage for the cost for treatment by Judo therapists was approved for the purpose of supplying healthy medical care in depopulated areas as well as densely-populated areas. This means that the importance of the role of Judo therapists as part of local medical care was recognized and at the same time their responsibility was clarified.

Education licensing system
In 1951 when Japan was still in the postwar years of recovery, the government established the education licensing system related to cultivation of Judo therapists by the joint ministerial decree by Education Ministry and Health and Welfare Ministry (present Health, Labor and Welfare Ministry). Thus the licensing system for fully-fledged training and education was established and many Judo therapist training schools were founded.

To the stage of national license
In 1990, the administration of the license of Judo therapist was transferred from prefectural governments to Minister of Health, Labor and Welfare, and in 1933 the first national licensing examination for Judo therapist was conducted

Increasing qualified therapists along with the increase in training facilities

The number of the examinees in the first national licensing examination was only 1066, but in the 12th examination held in Mar. 2004 the examinees increased to 3,000.
This is because the social change since 2000 including deregulation following the Big Bang, corporate downsizing, bank bankruptcy and collapse of corporate myth made people worry about their future and they wanted to obtain qualification. Also the accelerating corporate advance into different business fields or business categories is one of indirect causes for rapid increase of Judo therapist training institutions.
In this way, the number of Judo therapist training schools in 1998 was 14 nationwide, which increased to 107 in 2014 and the full complement has increased from 1050 students to over 8000.

Conclusion - Cultivation of Judo therapists who build a future

While traditional things were destroyed one after another, people apply such a great energy to Judo therapy or a Japanese traditional medicine as above-mentioned. Thus it is a key to stably select and cultivate high-quality human resources for next generation, which is the due responsibility of a training facility.
Also we think it is required to execute fair and public measures to create a new environment or a social system to nurture competent and right-quality Judo therapists by the industry, government and academia tie-up.

(Written by TMJ)

Source: http://kyobun.ac.jp/english/seihuku/

KUATSU (RESUSCITATION TECHNIQUES)

Are methods of resuscitation or artificial respiration involving knowledge of anatomy, there are several ways to practice it. It is said that once in judo training was required before beginning to attend a specialist in kuatsu and judo seifuku (kind of massage and replacement joints) given the intensity of training.

  Even today the degree exams in Japanese judo is charged to the contestants sandan on knowledge of techniques kuatsu or kappo.

  ju

 

The techniques are divided as follows:

Sassoi kuatsu

Eri kuatsu

so kuatsu

Ko-gan kuatsu

Suishi kuatsu

ju      ju
Nguồn:
http://judonokenkyu.woese.com/page/1386