Thursday, August 11, 2016

Lịch sử và vai trò của Y khoa Nhu đạo

Vai trò của bác sĩ Y khoa Judo trị liệu


Bác sĩ Y khoa Judo trị liệu từng được biết đến như "thuật sĩ nắn xương"
Bác sĩ Judo Y khoa trị liệu là người có giấy phép cấp quốc gia để điều trị các chấn thương xương, khớp, cơ bắp và các mô mềm thông qua việc điều trị duy trì (không qua phẫu thuật) dựa trên y học cổ truyền Nhật Bản hoặc các kỹ năng trị liệu Judo (phương pháp y học  được nhiều người biết đến và tin tưởng từ xưa ) cùng với các kiến thức Tây y hiện đại.
Những kỹ thuật trị liệu phát triển qua lịch sử, thân thiện với bệnh nhân và không sử dụng thiết bị y tế.
Các kỹ thuật Y khoa trị liệu của Judo không được tiêu chuẩn hóa một cách rõ ràng vì nhiều trường chỉ lưu truyền bằng miệng, ngoại trừ một số quan điểm phổ biến như việc ứng dụng các vận động tự nhiên của cơ thể, cơ chế tự chữa lành và sức mạnh của hệ miễn dịch. Do đó có thể nói rằng liệu pháp Y khoa Judo chứa tất cả các kỹ thuật trị liệu dựa trên cơ sở lý thuyết điều trị không sử dụng thiết bị y tế hiện có ngày nay. Vì vậy, nó đòi hỏi cần phải có sự đào sâu nghiên cứu.


Trong những năm gần đây, y học vật lý và các nghiên cứu về vận động (Kinesiology) sử dụng thiết bị dựa trên nền tảng điện học (tần số thấp, tần số cao, sóng siêu âm  … ) trở nên phổ biến. Tuy nhiên, trong liệu pháp Y khoa Judo, các phương pháp này bổ sung cho việc điều trị mà không sử dụng các thiết bị y tế.
Hoạt động y tế dựa trên Luật về liệu pháp Y khoa Judo
Luật riêng biệt về Y khoa trị liệu Judo (Judo therapist Law) được ban hành vào năm 1970 quy định việc cấp giấy phép hành nghề trị liệu Y khoa Judo và các điều khoản thực hiện khác. Các quy định này điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt động của các bác sĩ Judo trị liệu, quyền để mở một phòng khám trị liệu Judo, điều trị gãy xương và trật khớp xương dựa trên tiền đề y học (không bao gồm việc sơ cứu).
Nội dung của kỳ kiểm tra cấp phép quốc gia về trị liệu Judo được nêu tại các quy định này gồm giải phẫu học, sinh lý học, (tóm tắt) bệnh lý động học  giản lược, vệ sinh học ( hygieiology ), y tế công cộng, y học lâm sàng tổng quát, (tóm tắt) giải phẫu học giản lược, phẫu thuật chỉnh hình, y học phục hồi chức năng, lý thuyết Y khoa trị liệu Judo và các quy định pháp luật có liên quan. Thông qua các môn này, chúng ta có thể biết rằng ‘y học cổ truyền ngày nay’ (y học quốc gia) có mối liên hệ chặt chẽ với các kiến thức y học đặc biệt của phương Tây hiện đại.
Lịch sử của liệu pháp Y khoa Judo


Là chuyên gia trong việc điều trị các tổn thương xương khớp tồn tại trước cả khi được ghi nhận trong lịch sử.
Lịch sử của liệu pháp Y khoa Judo bắt đầu khi con người điều trị các chấn thương bên ngoài lần đầu tiên. Nhưng theo như những bằng chứng lịch sử ghi nhận, đã có những mô tả bằng cổ ngữ vào năm 701 về các chuyên gia điều trị gãy xương và tổn thương khớp. Đây hẳn là sự ra đời của y học cổ truyền (y học quốc gia) tại Nhật Bản.

Theo ghi chép, trong thời kỳ nội chiến, khi samurai giành được quyền lực, bác sĩ phẫu thuật được gọi là "kinsoi" chuyên nắn và điều trị gãy xương cho samurai bị thương trong chiến đấu.
Y học võ thuật phát triển từ Jujutsu
Liệu pháp Judo có nguồn gốc ban đầu từ kungfu và thuật nắn xương trật đả, do những người tị nạn từ Trung Quốc vào đầu thế kỷ 17 đem đến Nhật sau đó phát triển thành tiền thân của jujutsu Nhật Bản và lan rộng ra trên toàn quốc như một "kỹ thuật cứu và giết người". Đây là lý do tại sao có rất nhiều trường học của liệu pháp y khoa Judo chỉ được truyền khẩu.


Năm 1746, một cuốn sách có tựa đề "Bonesetting Treatment Book" (tạm dịch là “Sách về điều trị và nắn xương khớp”) đã ra đời và  được cho là cuốn sách về nắn xương lâu đời nhất ở Nhật Bản. Ngoài ra, trong một cuốn sách có tựa đề "Redressment Arcanum" (Bí Thuật Nắn Xương), một phương pháp điều trị chấn thương xương khớp được mô tả như là một phương pháp sơ cứu Judo.
Hơn nữa, vào năm 1807, quyển sách "Redressment Models" (Các Phương Pháp Trật đả Nắn Xương) ra đời và thuật nắn xương trật đả đã được công nhận là nghệ thuật của nền y học.


Trong thời kỳ Edo, khi các nền văn hóa khác nhau của Nhật Bản đã phát triển, các nghiên cứu khoa học của phương Tây mới bắt đầu nở rộ và các quyển sách về khoa học phương Tây trong nhiều lĩnh vực đã được dịch sang tiếng Nhật. Trong lĩnh vực trị liệu y khoa Judo, kiến ​​thức y học phương Tây đã được tiếp thu và Y khoa Nhu đạo truyền thống của Nhật Bản đã được kết hợp với Tây y.


Sự công nhận của xã hội đối với Judo trị liệu
Năm 1874, Chính sách Sức khỏe  đã được ban hành khiến cho các bác sĩ Judo trị liệu bước vào giai đoạn của những khó khăn để tồn tại. Năm 1919, các quy định chính thức được điều chỉnh bởi "phong trào kiến nghị công nhận chính thức Judo Y khoa trị liệu". Và trong năm 1920, cuộc kiểm tra cấp giấy chứng nhận đầu tiên được tiến hành như một phần của hệ thống chất lượng.
Một Judo Therapy Clinic - Phòng khám trị liệu Y khoa Nhu đạo ở Tokyo
Ảnh: http://www.ocada.jp/life/seikotsu.php
Bảo hiểm y tế
Năm 1936, việc bảo hiểm y tế chi trả cho các chi phí cho việc điều trị bằng Judo Y khoa trị liệu đã được phê duyệt với mục đích cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế lành mạnh đối với những khu vực  thưa dân cũng như các khu vực đông dân cư. Điều này có nghĩa rằng tầm quan trọng của vai trò của Judo Y khoa trị liệu như là một phần của chăm sóc y tế cộng đồng đã được công nhận cùng và đồng thời, vai trò của nó cũng được làm rõ.
Hệ thống cấp phép Giáo dục
Vào năm 1951, khi Nhật Bản vẫn còn trong những năm phục hồi sau chiến tranh, chính phủ thành lập các hệ thống cấp phép giáo dục liên quan đến việc phát triển Judo trị liệu bằng các sắc lệnh liên bộ của Bộ Giáo dục và Y tế,  và Bộ Phúc lợi (Hiện nay là Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi). Theo đó, hệ thống cấp phép cho việc đào tạo và giáo dục hoàn thiện chính thức được thành lập, nhiều trường đào tạo bác sĩ Judo Y khoa trị liệu cũng đã được thành lập.
Giai đoạn cấp phép quốc gia
Năm 1990, cơ quan quản lý việc cấp phép cho bác sĩ Judo trị liệu đã được chuyển từ vị trí chịu sự điều chỉnh của cấp quận lên Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, và kỳ thi cấp phép quốc gia đầu tiên cho bác sĩ Judo trị liệu đã được tổ chức trong năm 1933.


Nâng cao chất lượng bác sĩ Judo trị liệu cùng với việc tăng chất lượng các cơ sở đào tạo
Số lượng người dự thi trong kỳ thi cấp phép quốc gia đầu tiên chỉ có 1066 người, nhưng trong kỳ thi lần thứ 12 được tổ chức vào tháng 3 năm 2004 số thí sinh dự thi tăng lên đến 3.000 người.
Điều này là do sự thay đổi xã hội từ năm 2000 bao gồm việc bãi bỏ các quy định sau vụ Big Bang, tinh giản biên chế của công ty, phá sản của các ngân hàng và sự sụp đổ của các doanh nghiệp huyền thoại khiến cho người ta lo lắng về tương lai của họ và mong muốn có được những  những bằng cấp được công nhận. Việc thúc đẩy phân loại các công ty đến các ngành nghề kinh doanh, các loại hình doanh nghiệp khác nhau là một trong những nguyên nhân gián tiếp cho sự gia tăng nhanh chóng của cơ sở đào tạo bác sĩ Y khoa Judo trị liệu.


Bằng cách này, số lượng các trường đào tạo bác sĩ Y khoa Judo trị liệu khắp cả nước  vào năm 1998 là 14, và tăng lên đến 107 vào năm 2014 và tổng con số đã tăng từ 1.050 học  viên đến trên 8.000.
Kết luận – Sự phát triển của bác sĩ Judo trị liệu,  người xây dựng tương lai
Trong khi các yếu tố truyền thống dần bị mai một, người ta vẫn rất quan tâm và đầu tư cho Judo y khoa trị liệu hay nền y học cổ truyền Nhật bản như đã kể trên. Vì vậy, nó là một chìa khóa cho sự lựa chọn nuôi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các thế hệ tiếp theo một cách ổn định, đây đồng thời cũng là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.

Ngoài ra chúng tôi nghĩ rằng cần thiết để thực hiện các biện pháp công khai và phù hợp để tạo ra một môi trường mới hoặc một hệ thống xã hội để nuôi dưỡng khả năng cũng như các giá trị đúng của Judo trị liệu bằng cả ngành công nghiệp và chính phủ kết hợp với học thuật.
Các chuyên gia Y khoa Nhu đạo Nhật Bản đang minh họa kỹ thuật trị liệu tại Hội nghị Y học cổ truyền ngày 07/3/2012 tại khách sạn Phnom Penh - Cambodia. Nguồn: http://www.fidr.or.jp/english_bk/info/topics.html
Người dịch: Phương Thảo
Nguồn: Kyobun College of Tokyo Judo Therapy http://kyobun.ac.jp/english/seihuku/

Wednesday, August 3, 2016

Georges Osawa - Một đời hành hiệp

NGÔ ÁNH TUYẾT
Trích “Sổ tay Võ Thuật” tháng 4.1994

Vào những năm đầu thập niêm 1930, giữa Paris văn minh hoa lệ xuất hiện một người đàn ông châu Á dạy võ Nhu đạo cho người Pháp. Ông còn dạy thêm y học dưỡng sinh, triết học và nhiều bộ môn nghệ thuật của phương Đông, mà lúc bấy giờ ở châu Âu chưa ai biết đến. Người đó chính là giáo sư Osawa, trong thời gian đầu truyền bá phương pháp Thực dưỡng Macrobiotics cho người phương Tây.

Giáo sư Osawa tại Mỹ
Giáo sư Georges Osawa, tên Nhật là Sakurazawa Nyoichi, tên thuở bé là Yukikazu, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1883 tại Kyoto, cố đô nước Nhật, giữa thời rộn rịp của trào lưu Tây hóa và cảnh mờ phai của những giá trị cổ truyền mà gia đình ông là một điển hình tiên tiến. Lúc ông lên 5 tuổi, cha bỏ nhà đi xa để mặc bà vợ trẻ một mình nuôi các con thơ dại. Mẹ ông làm nữ tá viên điều dưỡng rất sùng bái y học phương Tây, nhưng lại phải giã biệt cõi đời khi tuổi mới 30 vì bệnh ho lao mà Tây y không phương cứu chữa. Sau đó, em trai ông cũng qua đời vì bệnh lao. Năm 1908 đến lượt ông phát bệnh trầm trọng : Lủng phổi và ung loét dạ dày. Nhờ áp dụng y học cổ truyền và bí quyết dưỡng sinh do mấy vị Thiền sư bày dạy, kết hợp với phương pháp tiết thực của bác sĩ Sagen Ishizuka, ông tự chữa lành mọi bệnh vào năm 19 tuổi. Từ đó ông lưu tâm nghiên cứu y học và triết học phương Đông.

Nhờ khỏi bệnh, chàng thanh niêm Osawa thi lấy bằng tốt nghiệp Cao đẳng thương mại vào năm 1912, và đến năm 1914 ông qua châu Âu lần đầu tiên khi làm việc cho công ty tàu biểnWormth Steamship của Anh. Năm 1915, ông được mời làm Giám đốc công ty Mậu dịch Nagakiri ở Kobe, và hai năm sau, ông thành lập công ty Mậu dịch Kobe, chi nhánh của Tổng công ty Kamasawa, chuyên bán sỉ tơ lụa. Năm 27 tuổi, ông chuyển qua buôn bán máy thu thanh nhập từ Pháp về, và có sáng kiến cải tiến máy quay phim và máy chiếu phim đương thời.

Năm 1925, ông Osawa lên Tokyo và bắt đầu thực hiện hoài bão của mình. Ông gia nhập Hội Thực Dưỡng của bác sĩ Sagen Ishizuka và được cử làm cố vấn, sau đó lại được cử làm Chủ nhiệm vào năm 34 tuổi và tổ chức trại hè Thực Dưỡng đầu tiên ở Hokkaido. Trong thời gian này, ông viết nhiều bài báo và 5 tập sách nói về phương pháp Tân Thực Dưỡng dựa vào Dịch lý Âm Dương.

Năm 1929, ông Osawa theo ngả đường sắt xuyên Sibêri sangParis. Tại Pháp, ông sống rất gian khổ để theo học Tây y, sinh lý học, sinh vật học tại trường Đại học Sorbonne và Viện Pasteur, đồng thời truyền bá phương pháp THỰC DƯỠNG MACROBIOTIQUE cho người châu Âu. Ông đã viết một số sách bằng tiếng Pháp và được nhiều nhà xuất bản ở Paris in ấn, đặc biệt ba cuốn : Le Principe Unique de la Science et de la Philosophie d’Extrème – Orient (Vô Song Nguyên Lý của Khoa học và Triết học Cực Đông), Le Livre des Fleurs (Hoa Đạo) và L’Acupuncture et La Médecine Orientale (Bí thuật Châm cứu và Y học phương Đông) gây được sự chú ý của nhiều người trong giới Tây y và học giả.
               
Hai ông bà Osawa và các đệ tử võ sư tại Pháp (đứng bên trái Gs Osawa là Đại sư Tamura, người đã được ông giới thiệu với Tổ Sư Uyeshiba Morihei, sáng tổ môn Aikido).

Năm 1935, Georges Osawa trở về nước, chủ trương chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới. Năm 1937, ông viết cuốn Tân Thực Dưỡng Liệu Pháp (Phương pháp Tân Dưỡng Sinh) bán ra hàng triệu bản. Năm 1940, ông sáng lập Viện Vô Song Nguyên Lý tại Ohtsu (Kyoto) giảng dạy cách sống theo Dịch Lý Âm Dương. Ông còn viết sách đả kích chủ nghĩa quân phiệt cùng những lời tiên đoán sự thất bại thảm hại của chủ nghĩa này, thí dụ hai cuốn "Thế giới Khang Kiện Chiến Tuyến" và "Làm cho người phương Tây" trở thành kẻ thù tiên đoán của các nhà lãnh đạo Nhật Bản cực đoan sẽ làm đất nước bại vong rồi trở nên rối loạn và họ sẽ bị tử hình. Tuy nhiên, ông cũng đưa ra giải pháp xử sự là trở lại đường lối ôn hòa mềm dẻo vốn có của người Á Đông trong cuốn "Nhu Đạo" (xuất bản năm 1942).

Cũng nên biết giáo sư Osawa là một võ sư Nhu Đạo thượng thừa và là bạn vong niên của Tổ sư Hiệp Khí Đạo Ueshiba. Ông có nhiều đệ tử là cao thủ võ lâm như Nakazono (6 đẳng Hiệp Khí Đạo, 6 đẳng Nhu Đạo); Mochizuki (8 đẳng Hiệp Khí Đạo, 6 đẳng Nhu Đạo). Oki (võ sư Nhu Thuật và Ninjitsu), Yasushi (võ sư Cung Đạo). v.v… Ông cho rằng võ thuật cũng là một cách dưỡng sinh; do đó, phần lớn các Trung tâm Thực Dưỡng trên thế giới đều có dạy những môn võ cổ truyền phương Đông.

Không những khuyến cáo các nhà lãnh đạo trong nước, giáo sư Osawa còn dựa vào Dịch lý Âm Dương để nhận định tình hình thế giới; ví dụ trong tác phẩm Người chiến thắng cuối cùng và vĩnh viễn, ông tiên đoán người Anh rời bỏ Ấn Độ và thánh Gandhi sẽ bị ám sát. Chính vì hoạt động phản chiến, Giáo sư Osawa đã bị chính quyền Nhật bắt giam nhiều lần, các tác phẩm bị tịch thu và ngày 25 tháng giêng 1945 ông bị giam cầm dưới hầm sâu lạnh 20 độ âm, bị hành hạ gần chết; nhờ sự vận động của các đệ tử, ông được thả ra vào tháng 6. Nhưng đến tháng 7, ông lại bị bắt và kết án tử hình. Tháng 9, ông được thả tự do khi Hoa Kỳ thắng trận vừa đúng lúc sắp bị đem ra xử bắn. Vừa ra khỏi tù, giáo sư Osawa cho xuất bản cuốn Tại sao Nhật Bản bại trận? giúp cho những nhà lãnh đạo mới một phương hướng ngoại giao thích hợp, đồng thời thành lập nhóm “Chẩn Sinh Hoạt” ở Tokyo để góp sức với các tổ chức y tế - xã hội tái tạo đất nước. Năm 1950, ông sáng lập Viện Nghiên cứu Thực Dưỡng Ignoramus House, tiền thân của Hội Y học Thực Dưỡng hiện nay ở Nhật.

Năm 1945, giáo sư Osawa cùng vợ là bà Lima rời quê hương đem phương pháp Thực Dưỡng truyền bá ra thế giới. Đầu tiên, hai ông bà đến Ấn Độ, sau đó sang châu Phi tìm gặp bác sĩ Albert Schweizer khuyên áp dụng y học Thực Dưỡng chữa bệnh ung sang nhiệt đới cho người da đen, chính ông đã đem thân thí nghiệm bằng cách để mình mắc bệnh rồi tự chữa lành trong 10 ngày với thức ăn thiên nhiên. Nhưng bác sĩ Schweitzer từ chối, nên hai ông bà rời châu Phi đi Pháp.

Từ đó, ông bà Osawa đi khắp châu Âu, mở ra những trung tâm phổ biến Thực Dưỡng và các hợp tác xã sản xuất thực phẩm thiên nhiên ở nhiều nước như Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Đức, Ý, Anh, Hòa Lan, v.v… Đến năm 1959, giáo sư Osawa sang thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên. Ông đi diễn thuyết và tổ chức trại nghiên cứu ở nhiều nơi trên đất Mỹ, thu hút được hàng chục người theo phương pháp Thực Dưỡng Macrobiotics. Trong thời gian này, ông viết hơn chục cuốn sách như La Philosophie de la Medecine d’Extrème-Orient (Y triết phương Đông), Zen Macrobiotic (Phương pháp Thực Dưỡng), L’Ere Atomique (Thời đại nguyên tử), The Book of Judgement (Trí phán đoán luận), v.v… và xuất bản nhiều tờ báo như Yin Yang (Âm Dương) ở Pháp, Macrobiotic News (Tin Tức Thực Dưỡng) ở Mỹ. Đặc biệt năm 1963, trên báo New York Herald Tribune ra ngày 18 tháng 8 có đăng lời ông tiên đoán Tổng thống Kennedy bị ám sát tại Dallas.

Ngoài y học, giáo sư Osawa còn áp dụng Dịch lý Âm Dương vào khoa học kỹ thuật như biến đổi Socium ra Potassium, chế vàng, chế xăng dầu không đông dưới 0o C, tạo mẫu máy bay cá nhân (gọi là “con rận trời Nhật Bản”),v.v…

Ngày 16 tháng 5 năm 1965, hai ông bà Osawa sang thăm Việt Nam “lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng”. Sau đó, giáo sư Osawa đã viết nhiều bài đăng trên các báo ở Pháp, Mỹ, Nhật kêu gọi thế giới giúp dân tộc Việt Nam vãn hồi hòa bình.
                
Ông bà Osawa thăm Việt Nam (1965)

Ngày 24 tháng 4 năm 1966, lúc 5 giờ chiều, trong lúc đang chuẩn bị tổ chức Đại hội hòa bình thế giới ở Hiroshima, giáo sư Osawa đột ngột qua đời. Để tưởng niệm một công dân ưu tú và là một vĩ nhân thế giới, chính phủ Nhật đã đưa hình ảnh của giáo sư lên màn ảnh truyền hình cho dân chúng xem. Tác phẩm cuối cùng của ông là "Giáo dục ý chí".
                                                                                                     
NAT   

Ai là vị giáo sư Nhu đạo đầu tiên của Việt Nam ?


NGUYỄN BÁ TÙNG
 Trích "Nguyệt san Võ Thuật"
Bộ mới/1970 

JUDO hay Nhu Đạo là môn võ của người Nhật đã bành trướng mạnh trên đất nước Việt Nam gần nửa thế kỷ nay. Trong số các môn phái hiện có ở Việt Nam, võ sinh theo học môn Nhu đạo nhiều nhất. Tinh thần Võ sĩ đạo cao thượng, triết lý sâu xa, những đòn biểu diễn đẹp mắt, những thế tự vệ hữu hiệu, những giáo sư danh tiếng như : Phạm Lợi, Thích Tâm Giác, Hồ Cẩm Ngạc… đó là những điều mà người ta biết về Nhu đạo. Nhưng Nhu đạo du nhập vào Việt Nam bằng cách nào? Và ai là vị giáo sư Nhu đạo đầu tiên của Việt Nam? Kể cả võ sinh Nhu đạo ít người biết đến vấn đề này.

Trước đây, có một thời gian người Nhật sang chíếm đóng ở ViệtNam nhưng không phải chính họ đã đầu tiên phổ biến môn võ này mà là một người Thái Lan. Năm 1937, có một sĩ quan người Thái Lan lưu vong sang Việt Nam được vị Chánh Mật thám Đông Dương thời bấy giờ mời dạy cho nhân viên Công an và Cảnh sát. Từ đó Nhu đạo bắt đầu xuất hiện nhưng phạm vi hoạt động còn nhỏ hẹp, chỉ có một số ít quân nhân người Việt Nam và Pháp kiều theo học mà thôi. Đến năm 1946 vị giáo sư Nhu đạo đầu tiên của Việt Nam huyền đai đệ nhất đẳng từ Pháp về nước mở lớp dạy tại sân Hào Thành với hai người Pháp phụ tá là Reiner và Zonca. Đó là giáo sư Phạm Đăng Cao. Lúc đầu cũng chỉ có Pháp kiều theo học, về sau nhóm Hàn Bái Đường đến thụ giáo và thâu đạt được nhiều kết quả. 

Sau một thời gian sang Pháp được thăng đệ nhị đẳng, Giáo sư Phạm Đăng Cao về nước làm Tỉnh trưởng Cần thơ, năm 1949. Nơi đây ông lại mở dạy tại tư dinh. Vì thế trong các tỉnh miền Nam, Cần thơ là nơi Nhu đạo xuất hiện đầu tiên và có rất nhiều giáo sư Nhu đạo xuất thân từ tỉnh đó. Một vài vị nổi tiếng như : ông Phan Văn Quan hiện là chủ tịch Tổng cuộc Nhu Đạo Việt Nam, cố Trung tá Lưu Trọng Kiệt, Nguyễn Văn Chơi…

Giáo sư Phạm Đăng Cao sang Pháp đã từ lâu nên hiện nay không biết đã được mấy đẳng. Sau khi giáo sư Phạm Đăng Cao sang Pháp thì từ Pháp Gs. Phạm Lợi về nước với những tổ chức tinh vi, chặt chẽ, phát triển mạnh môn Nhu đạo tại nước nhà. Lực lượng Thanh niên Nhu đạo ra đời và sau này đổi lại là Thanh Niên Tiền đạo Việt Nam. Tổ chức này hiện nay vẫn còn hoạt động mạnh. Trong số các giáo sư Nhu đạo tại Việt Nam, Phạm Lợi là vị Giáo sư có đẳng cấp cao nhất : Huyền đai đệ tứ đẳng, hiện đang là trưởng Ban kỹ thuật của Tổng cuộc Nhu đạo Việt Nam.

Mãi đến những năm gần đây môn phái Nhu đạo mới hân hạnh đón nhận hai vị Giáo sư xuất thân từ Nhật bản về nước. Đó là Hồ Cẩm Ngạc và Thích Tâm Giác. Cả hai vị đều là đệ tam đẳng. Nhưng bất hạnh thay Giáo sư Bùi Cẩm Ngạc sớm bỏ cõi đời để môn phái Sơn Điền mất đi một người cha, người anh kính mến. Và vì lý do chính trị đến sau ngày Cách mạng thành công, Thượng Tọa Thích Tâm Giác mới hoạt động được. Viện Nhu đạo Quang Trung bắt đầu thu nhận võ sinh và hiện nay là một võ đường rộng lớn và nổi tiếng nhất.


Như thế chúng ta nhận thấy rằng mặc dầu Nhu đạo là một môn võ của Nhật bản nhưng được truyền sang Việt Nam từ Tây Phương. Phạm Lợi, Hồ Cẩm Ngạc, Thích Tâm Giác là những giáo sư danh tiếng, nhưng Phạm Đăng Cao mới chính là vị Giáo sư Nhu sư đầu tiên. Và có lẽ chúng ta ai cũng nhận ra rằng những vị có tên trên là những bậc tiền bối, có công rất lớn với nền Nhu đạo Việt Nam vậy.

Nguồn:
http://www.aiki-viet.com.vn/mlfolder.2007-10-24.4661407515/mldocument.2007-11-07.9012344189

Bí quyết của Nhu Đạo dưới mắt nhà khoa học

Bí quyết mà chàng sinh viên Jigora Kano tự nghĩ ra để thắng những tay cao thủ Nhu thuật, kể cả thầy mình là ông Ikubo, thời đó đã tạo thành dư luận rất lớn. Thực ra bí quyết này, tức những kỹ thuật cơ bản của môn Nhu đạo, chỉ là sự áp dụng những nguyên lý căn bản của môn động lực học mà ngày nay chúng ta đã học từ cấp 2.

NGUYÊN LÝ THĂNG BẰNG

Mục tiêu của môn Nhu đạo là quật ngã được đối phương, có nghĩa là làm sao để đối phương mất thăng bằng để té. Do đó, nguyên lý thăng bằng của môn cơ học cũng là nguyên lý chủ yếu của môn Nhu đạo. Chúng ta biết sự cân bằng của một vật dựa trên 3 yếu tố:

-   Trọng lượng: Vật càng nặng càng khó bị xô ngã. Do đó, khi thi Nhu đạo phải xếp theo hạng cân.

-   Mặt chân đế: Tức là phần diện tích của vật tiếp xúc với mặt đất. Diện tích này càng rộng thì vật càng vững.

-   Vị trí của trọng tâm so với mặt chân đế: Trọng tâm càng thấp thì vật càng cân bằng, và đường thẳng góc với mặt chân đế qua trọng tâm càng ở sát mép của mặt chân đế thì vật càng dễ ngã.

Trường hợp của con người thì trọng tâm của thân thể nằm ở khoảng gần rốn. Khi chúng ta dang rộng chân vừa phải thì vững hơn khi hai chân gần nhau (mặt chân đế rộng hơn), cũng như khi chúng ta rùn chân xuống thì vững hơn khi đứng thẳng (trọng tâm thấp hơn).

Như vậy, bí quyết của Kano trong kỹ thuật phá thế thủ của đối phương (Kuzushi) là tìm cách thuận lợi nhất để đẩy đường thẳng góc qua trọng tâm của đối phương ra ngoài mặt chân đế, lúc đó chỉ cần tác động một lực nhỏ là có thể làm đối phương bị té. Trở lại mặt chân đế, khi chúng ta tập randori (song đấu), đó gần như là một hình thang giới hạn bởi đường thẳng nối liền 2 góc và 2 mũi chân, trong đó đường chiếu của trọng tâm nằm ở khoảng giữa. Cách dễ nhất để đẩy trọng tâm này ra biên khi đối phương đứng yên là ra đường biên ngang vì gần hơn so với đường biên chéo. Tức là đẩy lùi hay kéo tới theo hướng thẳng góc với 2 vai của họ. Nếu kéo theo đường biên chéo, sẽ mất sức nhiều hơn và người nhỏ con hơn khó làm được.

NGUYÊN LÝ ĐỘNG LỰC CỦA NEWTON
              



















Lực để kéo ngã đối phương sẽ còn giảm hơn nữa nếu chúng ta biết áp dụng nguyên lý thứ 2 của Newton về động lực học. Khi chúng ta tác dụng một lực cùng chiều lên hướng di chuyển của một vật sẽ làm thay đổi vận tốc của vật đó, sự thay đổi này tỷ lệ thuận với sức mạnh của lực và tỷ lệ nghịch với sức nặng của vật đó. Như vậy, thay vì kéo khi đối phương đứng yên, chúng ta đợi khi họ di chuyển và tác động một lực cùng chiều, lúc đó chỉ cần một lực nhỏ hơn cộng thêm lực di chuyển của đối phương cũng đủ làm họ ngã.

Trường hợp hai bên cùng giữ miếng và đối phương không chịu bước, chúng ta vẫn có thể lợi dụng sức đẩy hay kéo của họ và tấn công một lực cùng chiều cũng đạt được lợi thế trên.

MOMEN QUÁN TÍNH

Lực tác động trên vẫn còn có thể giảm nhỏ hơn nữa nếu chúng ta biết áp dụng nguyên lý momen quán tính. Momen quán tính là lực tạo ra khi chúng ta xoay người. Như vậy, thay vì chỉ dùng tay để kéo hay đẩy, nếu chúng ta xoay cả thân người, dùng lợi thế sức nặng của toàn thân để tạo lực quán tính thì sẽ giảm được sức kéo của tay rất nhiều. Vì thế mà trong các đòn Nhu đạo, chúng ta thường thấy phải xoay vai, mục đích là lợi dụng lực quán tính để giảm sức kéo.

ĐÒN BẨY
             























Archimédes bảo nếu trái đất này có điểm tựa thì ông có thể bẩy lên được. Chúng ta không thể tạo ra điểm tựa cho trái đất, nhưng chúng ta có thể tạo ra điểm tựa để bẩy đối phương lên được. Điểm tựa đó là hông của chúng ta khi ép sát vào đối phương trong các đòn ném Nhu đạo.

Có thể ví người của đối phương trong lúc tập randori (song đấu) như một đòn bẩy thẳng đứng mà lực cản là sức bám của chân họ. Muốn bẩy được sức này, chúng ta phải tác động một lực ở phía thân trên của họ, mà lực này lớn hay nhỏ tùy vị trí của điểm tựa. Làm sao để điểm tựa này càng thấp để “cánh tay đòn” tính từ điểm tựa lên đầu càng dài hơn từ điểm tựa xuống chân thì lực tác động càng nhỏ cũng đủ nâng họ lên. Vì vậy mà trong các đòn ném, khi xoay người áp sát vào đối phương, chúng ta phải hạ thấp hông. Càng dưới trọng tâm của họ càng tốt.


VAI TRÒ CỦA VẬN TỐC
















Nói nghe dễ, nhưng thực tế muốn lợi dụng được các ưu thế trên, chúng ta phải tung đòn thật kịp thời và thật nhanh trước khi đối phương lấy lại được thăng bằng. Vận tốc lúc ra đòn, ngoài việc kiến tạo đòn hữu hiệu còn là một yếu tố quan trọng trong việc giảm bớt lực tác động. Lý do động lực được tính bằng mV, nếu vận tốc V lớn sẽ tạo một lực rất lớn. Thí dụ, một vật nặng 1kg khi di chuyển với vận tốc 10m/giây sẽ tạo một lực bằng 1kg x 1.000cm/giây = 1.000kgcm/giây. Con số này, có nghĩa tương đương với một vật nặng 1 tấn chuyển động 1cm/giây. Và như thế, muốn ngăn một vật nặng 1kg chuyển động 10m/giây, chúng ta phải dụng vật cản nặng 1 tấn! Đấy chính là lý do tại sao một người nhỏ con có thể quật ngã được một người lớn con hơn, vì họ biết sử dụng vận tốc.

Những nguyên lý trên cho thấy phần nào ý nghĩa chữ “Nhu” trong Nhu đạo. Giải thích được bức tranh nổi tiếng treo ở võ đường Kodokan: Một cô gái Nhật nhỏ bé khắc chế được gã khổng lồ bằng mỗi một ngón tay. Những nguyên lý này cũng cho thấy vai trò của kiến thức khoa học trong đời sống – nhờ kiến thức mà Tổ sư J.Kano đã kiến tạo được môn Nhu đạo hữu hiệu này. Tuy nhiên, muốn sử dụng hiệu quả những nguyên lý đó cũng không phải dễ dàng mà phải có sự khổ luyện. Học võ cũng như mọi ngành hoạt động khác ngoài xã hội, phải liên tục làm việc chăm chỉ kết hợp với học tập – suy nghĩ và ngược lại.

Nguồn:
http://www.aiki-viet.com.vn/ly-thuyet/mldocument.2008-07-22.4728287381
Trích “Sổ tay VÕ THUẬT” tháng 12/1994